Là nền kinh tế lớn nhất Nam Mỹ và đứng thứ 7 thế giới về tổng thu nhập quốc nội và quy mô thị trường nhưng kể từ nửa cuối năm 2016 cho đến nay, chính trường Bra-xin luôn biến động khó lường với các cáo buộc lẫn nhau của các phe phái chính trị trong cuộc chiến chống tham nhũng được gọi là ``rửa sạch`` (lava jato). Tuy hiệu lực của chiến dịch này còn gây ra nhiều tranh luận, nhưng nó cũng phần nào cải thiện hình ảnh của Bra-xin trong con mắt của giới đầu tư và doanh nghiệp. Trong báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) mới ấn hành, thứ hạng của nước này đã cải thiện lên vị tri thứ 80 trên tổng số 137 nền kinh tế được WEF đánh giá sau một vài năm gần đây thứ hạng bị xuống rất thấp do những bất ổn chính trị và tình trạng tham nhũng tràn lan.

Sau khi suy thoái kinh tế được đánh giá là chạm đáy vào đầu năm 2017, kinh tế Bra-xin có dấu hiệu phục hồi ở mức khiêm tốn. Chính phủ hiện tại đang nỗ lực vực dậy khu vực nông nghiệp, nông thôn cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ và coi đây là những trọng tâm của chính sách phát triển nền kinh tế bằng nội lực.
Kinh tế Bra-xin 9 tháng đầu năm vẫn tiếp tục cho thấy nhiều dấu hiệu khởi sắc, thoát ra khỏi khủng hoảng nhưng tốc độ vẫn còn khá chậm, các chỉ số về kinh doanh và tiêu dùng đều tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra chính hiện nay cho nền kinh tế Bra-xin đó vẫn là chỉ số niềm tin kinh doanh vẫn ở mức thấp, sức mua và chỉ số giá chưa tăng cao như kỳ vọng, thất nghiệp ở mức cao.
Trong quý III và cuối năm 2017, kinh tế Bra-xin được dự báo tiếp tục phục hồi nhẹ, dự kiến tăng trưởng ở mức 0,6%-0,8% trong cả năm 2017.
Thương mại quốc tế
9 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch ngoại thương của Bra-xin đạt 275,93 tỉ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 164,60 tỉ USD, tăng 18,1% và nhập nhẩu đạt 111,33 tỉ USD, tăng 7,9%.
Bảng 1: các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Bra-xin 9T/2017
|
STT |
Mặt hàng |
Kim ngạch (USD) |
% tăng/giảm |
|
1 |
Đậu tương |
23.050.126.981 |
24,50 |
|
2 |
Quặng sắt |
14.176.876.980 |
54,50 |
|
3 |
Dầu thô |
13.338.309.652 |
87,54 |
|
4 |
Đường mía thô |
6.990.785.603 |
19,22 |
|
5 |
Thịt gà |
4.910.475.041 |
7,53 |
|
6 |
Xe du lịch |
4.880.613.186 |
51,09 |
|
7 |
Bột giấy |
4.637.394.712 |
13,10 |
|
8 |
Bã đậu tương |
3.939.123.171 |
-7,12 |
|
9 |
Thịt bò |
3.613.772.619 |
9,99 |
|
10 |
Cà phê nhân |
3.298.151.005 |
1,11 |
|
11 |
Sản phẩm thép tiền chế |
2.923.859.155 |
50,60 |
|
12 |
Ngô hạt |
2.634.101.961 |
-16,01 |
|
13 |
Tàu bay |
2.604.369.006 |
-13,29 |
|
14 |
Xe tải |
2.131.798.589 |
39,52 |
|
15 |
Khí từ công nghiệp luyện nhôm |
1.967.861.608 |
17,06 |
|
16 |
Đường tinh luyện |
1.892.636.739 |
25,60 |
|
17 |
Sản phẩm xăng dầu |
1.871.404.395 |
27,41 |
Nguồn: Bộ CN, NT & DV - Brazil
Bảng 2: các mặt hàng Bra-xin nhập khẩu nhiều nhất trong 9T/2017
|
STT |
Mặt hàng |
Kim ngạch (USD) |
% tăng/giảm |
|
1 |
Điện thoại và linh kiện |
5.281.743.643 |
34,48 |
|
2 |
Dược phẩm |
4.565.530.915 |
4,36 |
|
3 |
Phụ tùng ô tô |
4.028.647.287 |
12,23 |
|
4 |
Sản phẩm xăng dầu |
3.769.101.602 |
83,15 |
|
5 |
Bảng mạch điện tử |
3.093.025.041 |
48,91 |
|
6 |
Dầu hỏa |
2.823.862.801 |
38,70 |
|
7 |
Hóa chất |
2.137.014.239 |
-9,48 |
|
8 |
Phân bón |
2.089.210.015 |
42,80 |
|
9 |
Dầu thô |
2.053.077.491 |
-9,39 |
|
10 |
Xe du lịch |
2.033.575.080 |
-2,40 |
|
11 |
Thuốc trừ sâu |
1.703.334.559 |
-1,11 |
|
12 |
Thiết bị đo lường |
1.534.642.744 |
-3,46 |
|
13 |
Xăng |
1.363.485.981 |
92,53 |
|
14 |
Chất dẻo nguyên liệu |
1.361.839.984 |
18,82 |
|
15 |
Động cơ ô tô và phụ tùng |
1.358.443.750 |
10,86 |
|
16 |
Xe tải |
1.340.116.422 |
24,14 |
|
17 |
Bánh răng, dây curoa các loại |
1.254.496.303 |
-3,79 |
|
18 |
Máy phát điện, động cơ điện, chuyển dòng |
1.209.312.667 |
-15,44 |
|
19 |
Hợp chất gốc ni-tơ |
1.081.349.133 |
5,40 |
|
20 |
Bơm, máy nén khí, quạt gió và linh kiện |
1.002.789.369 |
-5,56 |
Nguồn: Bộ CN, NT & DV - Brazil
Một số chính sách kinh tế, xuất nhập khẩu mới của Bra-xin
Chính phủ Bra-xin đang chuyển hướng chính sách ưu đãi sang khu vực nông nghiệp, nông thôn và cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ bằng nhiều biện pháp cụ thể:
Cùng với chính sách thắt lưng buộc bụng, tăng cường thu thuế, Chính phủ Bra-xin tập trung nguồn lực nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn coi đây là một cứu cánh cho nền kinh tế.
Mới đây Chính phủ Bra-xin công bố chương trình hỗ trợ tài chính cho nông nghiệp và chăn nuôi với tên gọi "Chương trình thu hoạch". Theo đó, Chính phủ sẽ dành một khoản ngân sách tương đương với gần 60 tỉ USD nhằm hỗ trợ trang trại quy mô vừa và lớn với lãi suất ưu đãi khoảng trên dưới 8% năm tập trung vào các hoạt động như: hỗ trợ chi phí sản xuất, hiện đại hóa phương tiện cơ giới trong nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác và chuồng trại, tu chỉnh lại các tuyến đường quốc lộ tại một số khu vực trọng điểm nông nghiệp, hiện đại hóa một số cảng biển phục vụ xuất khẩu.
- Miễn giảm, giãn hoặc cho nợ thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm đầu vào phục vụ chế biến xuất khẩu. Các loại thuế được miễn giảm trong chương trình này như: thuế nhập khẩu, thuế đánh lên các sản phẩm công nghiệp, phí đóng góp an sinh xã hội... và kể cả thuế lưu thông hàng hóa liên bang.
Theo số liệu của Cục Ngoại thương Bra-xin (Thuộc Bộ Công nghiệp,Ngoại thương và Dịch vụ), năm 2016, các doanh nghiệp đăng ký tham gia chương trình miễn giảm thuế này lên tới con số 1.700 doanh nghiệp, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt khoảng 42,0 tỉ USD, chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu. Hàng hóa tham gia chương trình rất đa dạng nổi bật như thịt gà, ô tô và hóa chất.
Trong thương mại quốc tế Bra-xin thường xuyên thặng dư thương mại với hầu hết các đối tác thương mại chính. Thời gian gần đây, do suy thoái kinh tế nên nước này càng tăng cường các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Theo WTO, Bra-xin là một trong những nước thường xuyên áp dụng các biện pháp phòng vệ nhiều nhất.
Quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam – Bra-xin
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, 9 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Bra-xin đạt 2.596,85 triệu USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó xuất khẩu đạt 1.462,68 triệu USD, tăng 56%, nhập khẩu đạt 1.134,18 triệu USD, giảm 16% so với 9 tháng năm 2016.
Số liệu cho thấy xuất khẩu các sản phẩm chính của Việt Nam sang Bra-xin trong 9 tháng đầu năm 2017 đều tăng trưởng mạnh trở lại, cụ thể như: điện thoại và linh kiện tăng trên 80%, máy vi tính, linh kiện điện tử tăng gần 200%, thủy sản tăng 70%, ... sản phẩm dệt may, sản phẩm sắt thép, nhựa, và thực phẩm đều có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao.
Nhiều thương nhân Bra-xin đang tăng cường tìm kiếm nguồn hàng đáp ứng nhu cầu trong nước dần hồi phục sau giai đoạn suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, đà tăng trưởng này cũng sẽ gặp phải những biện pháp phòng vệ thương mại, hàng rào kỹ thuật mà Bra-xin ngày càng có xu hướng áp dụng nhiều hơn nhằm bảo hộ sản xuất nội địa.
Bảng 3: Các sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam
sang Bra-xin 9 tháng 2017
|
Xuất khẩu |
9T 2016 |
9T 2017 |
Tăng/giảm (%) |
|
Điện thoại các loại và linh kiện |
341.818.963 |
616.830.965 |
80,46 |
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện |
67.118.468 |
199.834.094 |
197,73 |
|
Giày, dép các loại |
117.002.958 |
126.175.209 |
7,84 |
|
Hàng thủy sản |
45.915.172 |
77.938.283 |
69,74 |
|
Máy móc, thiết bị dụng vụ phụ tùng khác |
39.971.242 |
70.602.751 |
76,63 |
|
Phương tiện vận tải và phụ tùng |
39.971.242 |
67.609.736 |
69,15 |
|
Xơ, sợi, dệt các loại |
44.343.442 |
53.063.864 |
19,67 |
|
Hàng dệt, may |
28.571.955 |
35.289.171 |
23,51 |
|
Sản phẩm từ sắt thép |
15.423.509 |
16.499.658 |
6,98 |
|
Kim loại thường khác và sản phẩm |
12.377.617 |
12.855.756 |
3,86 |
|
Cao su |
11.107.346 |
12.224.619 |
10,06 |
|
Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù |
5.204.078 |
7.571.636 |
45,49 |
|
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận |
4.888.208 |
6.712.803 |
37,33 |
|
Vải mành, vải kỹ thuật khác |
6.720.622 |
6.613.591 |
-1,59 |
|
Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày |
10.255.424 |
5.339.887 |
-47,93 |
|
Sản phẩm từ cao su |
2.732.491 |
4.589.852 |
67,97 |
|
Sắt, thép các loại |
497.631 |
3.112.106 |
525,38 |
|
Sản phẩm mây , tre, cói và thảm |
785.374 |
893.627 |
13,78 |
|
Sản phẩm nội thất từ chất liệu gỗ khác |
130.613 |
67.494 |
-48,33 |
|
Tổng cộng |
939.749.051 |
1.462.675.583 |
55,65 |
Nguồn: Tổng cục Hải quan VN
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Bra-xin sang Việt Nam có xu hướng tiếp tục giảm trong năm 2017, do một số nông sản chủ lực của nước này xuất khẩu sang Việt Nam không có vụ mùa và giá cả thuận lợi (trừ mặt hàng đậu tương, năm nay Bra-xin có mùa vụ thuận lợi, giá giảm tương đối so với các nước sản xuất khác). Tuy nhiên, các mặt hàng công nghiệp như sản phẩm sắt thép, quặng, hóa chất lại có xu hướng tăng mạnh về lượng và trị giá xuất khẩu sang Việt Nam trong thời gian qua.
Bảng 4: Các sản phẩm xuất khẩu chính của Bra-xin
sang Việt Nam 9 tháng 2017
|
Nhập khẩu |
9T 2016 |
9T 2017 |
Tăng/giảm (%) |
|
Đậu tương |
133.928.684 |
253.859.656 |
89,55 |
|
Ngô |
521.086.590 |
229.466.292 |
-55,96 |
|
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày |
120.057.951 |
106.845.512 |
-11,01 |
|
Thức ăn gia súc và nguyên liệu |
122.331.676 |
104.243.334 |
-14,79 |
|
Sắt thép các loại |
7.477.674 |
76.818.344 |
927,30 |
|
Quặng và khoáng sản khác |
41.044.895 |
57.657.854 |
40,48 |
|
Nguyên phụ liệu thuốc lá |
54.279.575 |
56.780.346 |
4,61 |
|
Bông các loại |
121.422.266 |
54.221.131 |
-55,34 |
|
Gỗ và sản phẩm gỗ |
23.817.465 |
33.004.860 |
38,57 |
|
Hóa chất |
14.663.740 |
21.384.709 |
45,83 |
|
Lúa mì |
63.755.285 |
19.840.511 |
-68,88 |
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
15.070.405 |
12.376.941 |
-17,87 |
|
Chất dẻo nguyên liệu |
10.675.743 |
8.353.638 |
-21,75 |
|
Linh kiện, phụ tùng ô tô |
4.457.297 |
4.260.146 |
-4,42 |
|
Hàng rau quả |
2.525.730 |
3.456.471 |
36,85 |
|
Phế liệu sắt thép |
6.747.455 |
2.557.858 |
-62,09 |
|
Chế phẩm thực phẩm khác |
182.462 |
583.630 |
219,86 |
|
Kim loại thường khác |
242.473 |
55.349 |
-77,17 |
|
Tổng cộng |
1.356.360.887 |
1.134.178.761 |
-16,38 |
Nguồn: Tổng cục Hải quan VN
Theo số liệu của Bộ Công nghiệp, Ngoại thương và Dịch vụ Bra-xin, tổng kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Bra-xin trong 9 tháng đầu năm 2017 đạt 2.778,20 triệu USD, tăng 20% so với 9 tháng năm 2016. Trong đó, Bra-xin xuất khẩu sang Việt Nam đạt 1.166,96 triệu USD, tăng 2%, nhập khẩu của Bra-xin từ Việt Nam đạt kim ngạch 1.611,24 triệu USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm 2016.
Xu thế hợp tác không thể đảo ngược
Quy mô trao đổi thương mại song phương xấp xỉ 4,0 tỉ USD sẽ có thể là động lực cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước tăng cường hơn nữa các hoạt động giao thương thực chất hơn, hướng tới những mối quan hệ bền vững, lâu dài hơn chỉ là việc dừng lại ở các giao dịch thương mại thuần túy. Hai nền kinh tế có tính bổ sung nổi trội trong cơ cấu các mặt hàng trao đổi, không có nhiều mặt hàng cạnh tranh trực tiếp sẽ tại ra dư địa lớn cho quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Mặc dù phía Bra-xin thường xuyên áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại liên quan đến một số sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam, nhưng những biện pháp này chỉ mang tính thời điểm và không thể làm đảo ngược xu thế hợp tác, bổ sung cùng phát triển của các doanh nghiệp Bra-xin và Việt Nam.