Thương vụ Việt Nam tại Singapore dẫn nguồn số liệu thống kê của Cơ quan Quản lý doanh nghiệp Singapore cho biết, riêng trong tháng 05 năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore với thế giới đạt 154,3 tỷ SGD, tăng 39,7% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Xuất khẩu đạt 79,2 tỷ SGD, tăng 36,1%, Nhập khẩu đạt gần 75,1 tỷ SGD, tăng 43,6%.
Trong xuất khẩu hàng hóa, giá trị xuất khẩu sản phẩm sản xuất nội địa đạt 28,5 tỷ SGD, tăng 29,5%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) đạt 50,7 tỷ SGD, tăng 40,2%.
Trong 05 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore với thế giới đạt 729,3 tỷ SGD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Xuất khẩu đạt 388,6 tỷ SGD, tăng 30,4%; Nhập khẩu đạt 340,7 tỷ SGD, tăng 29,6%.
Trong xuất khẩu hàng hóa, giá trị xuất khẩu sản phẩm sản xuất nội địa đạt 132,7 tỷ SGD, tăng 13,2%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) đạt 255,9 tỷ SGD, tăng 41,5%.
Trong 05 tháng đầu năm 2026, trao đổi thương mại của Singapore với 15 đối tác chính đa số duy trì tăng trưởng dương. Trong đó, về giá trị trao đổi thì Đài Loan tiếp tục tạm thời giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Singapore với kim ngạch trao đổi song phương đạt 127,4 tỷ SGD, tăng 90% so với cùng kỳ năm 2025. Top 5 đối tác thương mại lớn nhất của Singapore còn có Trung Quốc (trao đổi song phương đạt 72 tỷ SGD, tăng 13,9%), Malaysia (67,9 tỷ SGD, tăng 13,5%), Hoa Kỳ (63,5 tỷ USD, tăng 7,3%), và Hồng Công (44,6 tỷ SGD, tăng 29%).
Sau 05 tháng đầu năm 2026, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại thứ 10 của Singapore với kim ngạch trao đổi song phương đạt tổng cộng 23,3 tỷ SGD, tăng 43,4% so với cùng kỳ 2025, trong đó: Xuất khẩu của Singapore tới Việt Nam đạt 12,3 tỷ SGD, tăng 4,8%; Nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam đạt 11 tỷ SGD, tăng 142,9%.
Nếu chỉ tính xuất khẩu hàng có xuất xứ nội địa thì Singapore đang là nước nhập siêu với giá trị nhập siêu đạt hơn 7,3 tỷ SGD (tương đương 5,6 tỷ USD).
Trong tháng 05 năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore với Việt Nam đạt gần 4,5 tỷ SGD, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Xuất khẩu của Singapore tới Việt Nam đạt 2 tỷ SGD, giảm 11,8%, Nhập khẩu từ Việt Nam đạt gần 2,5 tỷ SGD, tăng 184,7%.
Trong xuất khẩu hàng hóa của Singapore, giá trị xuất khẩu sản phẩm sản xuất nội địa đến Việt Nam đạt 567,2 triệu SGD, tăng 11,4%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) sang Việt Nam đạt gần 1,5 tỷ SGD, giảm 18,4%.
Trong 05 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Singapore với Việt Nam đạt 23,3 tỷ SGD, tăng 43,4% so với cùng kỳ 2025, trong đó: Xuất khẩu của Singapore tới Việt Nam đạt 12,3 tỷ SGD, tăng 4,8%; Nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam đạt 11 tỷ SGD, tăng 142,9%.
Trong xuất khẩu hàng hóa của Singapore, giá trị xuất khẩu sản phẩm sản xuất nội địa đến Việt Nam đạt 3,7 tỷ SGD, tăng 13,5%, giá trị tạm nhập tái xuất (trung chuyển) sang Việt Nam đạt 8,5 tỷ SGD, tăng 1,5%.
Về xuất khẩu, trong 05 tháng đầu năm 2026, hai nhóm hàng là Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) và Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) tiếp tục là hai nhóm hàng hóa xuất khẩu thứ 1 và 2 của Singapore tới Việt Nam.
Tổng giá trị xuất khẩu của hai nhóm này đạt 8,4 tỷ SGD, chiếm đến 68,8% tổng giá trị xuất khẩu của Singapore sang Việt Nam trong 05 tháng đầu năm 2026. Hai nhóm này hiện cũng đang chứng kiến mức tăng trưởng khá, cụ thể là: nhóm Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) có giá trị xuất khẩu tới Việt Nam đạt 5,9 tỷ SGD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2025; còn nhóm Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) đạt 2,5 tỷ SGD, tăng 28,8%.
Tuy cùng chiếm tỷ trọng cao, nhưng bản chất xuất khẩu của Singapore đối với hai nhóm này tới Việt Nam có sự khác biệt khá rõ rệt. Nếu như nhóm Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) có tỷ lệ tạm nhập tái xuất từ nước thứ ba đến 95,3%, thì nhóm Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) lại chủ yếu được sản xuất trong nước tại Singapore, với tỷ lệ của giá trị nội địa trong xuất khẩu sang Việt Nam chiếm đến 90,1%.
Ngoài hai nhóm nêu trên, trong Top 15 các nhóm hàng xuất khẩu chính của Singapore tới Việt Nam trong 05 tháng đầu năm 2026, có một số nhóm hàng khác đáng chú ý với giá trị xuất khẩu khá hoặc tăng trưởng ấn tượng như nhóm: Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84) đạt 1,2 tỷ SGD, tăng 49,7%; Nhựa và sản phẩm từ nhựa (HS 39) đạt 355,4 triệu SGD, giảm 21,5%; và Tinh dầu, nước hoa, mỹ phẩm hoặc chế phẩm vệ sinh (HS 33) đạt 292,7 triệu SGD, tăng 14,4%.
Về xuất khẩu, trong 05 tháng đầu năm 2026, nhóm Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) cũng tiếp tục là nhóm hàng hóa có giá trị nhập khẩu cao nhất mà Singapore nhập khẩu từ Việt Nam, đạt gần 5,9 tỷ SGD, tăng 161,8% so với cùng kỳ năm 2025 và chiếm đến 53,6% tổng giá trị nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam.
Đứng thứ 2 và 3 về giá trị nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam lần lượt là các nhóm: Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84), đạt gần 3,7 tỷ SGD, tăng 268,7%; và Thủy tinh và sản phẩm bằng thủy tinh (HS 70), đạt 349,1 triệu SGD, giảm 2,3%.
Ngoài ra, các nhóm còn lại trong Top 15 nhóm hàng nhập khẩu chính của Singapore từ Việt Nam có một số nhóm có tăng trưởng cao đáng chú ý sau: Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27), đạt 258,7 triệu SGD, tăng 244,9%; Muối; lưu huỳnh; đất và đá; thạch cao, vôi và xi măng (HS 25), đạt 73,4 triệu SGD, tăng 55,3%; Quần áo và các hàng may mặc phụ trợ, không dệt kim hoặc móc (HS 62), đạt 40,7 triệu SGD, tăng 19,3%; Giấy và bìa; sản phẩm từ bột giấy (HS 48), đạt 22,4 triệu SGD, tăng 58,1%; và Đồ chơi, thiết bị trò chơi và dụng cụ, thiết bị thể thao; các bộ phận và phụ kiện của chúng (HS 95), đạt 21,3 triệu SGD, tăng 87,9%.
Theo ông Cao Xuân Thắng, Tham tán thương mại Việt Nam tại Singapore, báo cáo của Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore (MTI) công bố ngày 25 tháng 05 năm 2026 cho thấy, kinh tế Singapore trong năm 2026 được đánh giá là đang tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực, nhưng triển vọng chung trở nên thận trọng hơn do môi trường bên ngoài nhiều biến động.
GDP Singapore quý I/2026 tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 5,7% của quý IV/2025; nếu tính theo quý và đã điều chỉnh mùa vụ, GDP tăng 1%. Trên cơ sở kết quả này, MTI duy trì dự báo tăng trưởng GDP cả năm 2026 ở mức 2%~4%, dù nhấn mạnh rằng rủi ro suy giảm đã tăng lên đáng kể. Trong khi đó, khảo sát mới nhất của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) đối với các nhà kinh tế tư nhân cho thấy dự báo tăng trưởng năm 2026 được điều chỉnh giảm nhẹ từ 3,6% xuống 3,5%, chủ yếu do kỳ vọng tiêu dùng tư nhân yếu hơn.
Động lực tăng trưởng nổi bật trong quý I/2026 của nền kinh tế Singapore, theo MTI đánh giá là đến từ các ngành hướng ngoại và có liên hệ chặt chẽ với chu kỳ công nghệ toàn cầu, đặc biệt là nhu cầu liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI). Trong đó, nhu cầu AI mạnh đã hỗ trợ phân khúc máy móc, thiết bị và vật tư trong ngành bán buôn, đồng thời thúc đẩy các cụm điện tử và cơ khí chính xác trong ngành chế tạo. Đối với các ngành cụ thể, báo cáo của MTI cho thấy: Ngành chế tạo tăng 7,9% trong quý I/2026, nhờ các cụm điện tử, cơ khí chính xác, kỹ thuật vận tải và chế tạo tổng hợp; tuy nhiên, cụm hóa chất và y sinh lại suy giảm. Ngành xây dựng tăng mạnh 11,8%, được hỗ trợ bởi cả sản lượng xây dựng khu vực công và tư nhân. Bán buôn tăng 11,7%, chủ yếu nhờ giao dịch máy móc, thiết bị, máy tính, viễn thông và linh kiện điện tử. Tài chính – bảo hiểm tăng 5,7%, phản ánh hoạt động tương đối tích cực trong ngân hàng, quản lý quỹ và giao dịch chứng khoán. Ở chiều ngược lại, một số ngành có mức tăng thấp hơn, cho thấy đà phục hồi chưa đồng đều. Vận tải-kho bãi chỉ tăng 1,5% trong quý I/2026, thấp hơn mức 2,1% của quý trước. Dịch vụ ăn uống tăng rất nhẹ, chỉ 0,4%, cho thấy nhu cầu tiêu dùng trong nước vẫn còn thận trọng. Bán lẻ tăng 2,6%, tích cực hơn nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các ngành như xây dựng, bán buôn hoặc chế tạo. Điều này phù hợp với nhận định của các nhà kinh tế tư nhân rằng tiêu dùng hộ gia đình có thể là điểm yếu tương đối trong năm 2026.
Một rủi ro đáng kể khác đối với kinh tế Singapore trong nửa cuối 2026 được chỉ ra là căng thẳng địa chính trị và giá năng lượng. Theo MTI, xung đột tại Trung Đông đã làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng và một số đầu vào quan trọng, từ đó đẩy chi phí năng lượng, nguyên liệu và lạm phát lên cao. Tác động này đặc biệt rõ đối với các ngành phụ thuộc vào dầu thô, khí tự nhiên và sản phẩm hóa dầu, bao gồm lọc dầu, hóa chất, vận tải biển, vận tải hàng không và một phần thương mại bán buôn. MTI ghi nhận một số nhà máy lọc dầu và hóa dầu đã giảm công suất, trong khi một số doanh nghiệp hóa chất hạ nguồn phải tuyên bố bất khả kháng. Lạm phát vì vậy trở thành vấn đề cần theo dõi trong năm 2026. Theo khảo sát MAS, dự báo lạm phát toàn phần năm 2026 tăng lên 2,3%, so với mức 1,5% trong khảo sát trước; lạm phát lõi cũng tăng lên 2,0%, từ mức 1,5% trước đó. Áp lực giá cả có thể làm giảm thu nhập thực tế của hộ gia đình và khiến người dân thận trọng hơn trong chi tiêu. Đây là lý do dự báo tiêu dùng tư nhân bị điều chỉnh giảm từ 3,5% xuống 3,2%, qua đó kéo dự báo tăng trưởng GDP chung mà MAS đưa ra xuống mức 3,5%.
Theo ông Thắng, thị trường lao động tại Singapore nhìn chung vẫn ổn định. Tỷ lệ thất nghiệp vào cuối năm 2026 được dự báo ở mức 2,1%, không thay đổi so với kết quả khảo sát kỳ trước. Điều này cho thấy nhu cầu lao động vẫn tương đối vững, đặc biệt trong các lĩnh vực như công nghệ, tài chính, xây dựng, dịch vụ chuyên môn và logistics. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các ngành có thể ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng việc làm. Các lĩnh vực hưởng lợi từ AI và đầu tư hạ tầng có thể tiếp tục mở rộng tuyển dụng, trong khi các ngành chịu áp lực từ giá năng lượng, chi phí đầu vào hoặc tiêu dùng yếu có thể thận trọng hơn. Đối với các ngành nội địa, xây dựng và bất động sản là những điểm tựa quan trọng. MTI cho rằng xây dựng sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi các công trình công cộng, trong khi bất động sản hưởng lợi từ các dự án nhà ở tư nhân mới và nhu cầu tương đối ổn định của người mua để ở. Ngoài ra, Chính phủ Singapore cũng có các biện pháp hỗ trợ chi phí sinh hoạt, bao gồm phát hành sớm phiếu mua hàng CDC trong tháng 06 năm 2026 và tăng cường khoản hỗ trợ đặc biệt trong Ngân sách 2026, nhằm giảm bớt tác động của giá cả tăng đối với hộ gia đình.
Đối với Việt Nam và các đối tác kinh tế trong khu vực, bối cảnh này mở ra cả cơ hội và thách thức. Singapore vẫn là thị trường có sức mua cao, trung tâm thương mại-tài chính quan trọng và cửa ngõ vào chuỗi cung ứng khu vực. Nhu cầu có thể tiếp tục tích cực đối với hàng công nghệ, linh kiện, dịch vụ hỗ trợ, sản phẩm phục vụ xây dựng, logistics, thực phẩm, đồ uống và hàng tiêu dùng thiết yếu. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chú trọng chất lượng, tiêu chuẩn, khả năng giao hàng ổn định và giá cả cạnh tranh, nhất là trong bối cảnh nhà nhập khẩu và người tiêu dùng Singapore có thể thận trọng hơn do lạm phát và chi phí sinh hoạt.
Về thương mại với Việt Nam, trong 05 tháng đầu năm 2026, ngoài việc ta vẫn đang duy trì vị trí đối tác thương mại thứ 10 của Singapore, Thương vụ ghi nhận điểm đáng chú ý là 03 nhóm Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85); Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27); và Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84) đang tiếp tục là các nhóm có tăng trưởng dương ở mức cao ở cả hai chiều xuất khẩu và nhập khẩu. Trong đó:
- Máy móc và thiết bị điện và bộ phận (HS 85) mặc dù có giảm nhẹ 2,8% ở chiều xuất khẩu từ Singapore sang Việt Nam nhưng vẫn có mức tăng ấn tượng 161,8% ở chiều nhập khẩu của Singapore từ Việt Nam;
- Nhiên liệu, dầu mỏ và sản phẩm chưng cất; các chất chứa bi-tum; các loại sáp khoáng chất (HS 27) tăng tương ứng 28,8% và 244,9%;
- Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi, máy và thiết bị cơ khí và bộ phận (HS 84) tăng tương ứng 49,7% và 268,7%.
Xu hướng tăng trưởng xuất nhập khẩu các nhóm hàng này của Singapore đối với Việt Nam tiếp tục cho thấy đây không chỉ là sự gia tăng mang tính ngắn hạn về kim ngạch, mà còn phản ánh mức độ gắn kết ngày càng sâu giữa hai nền kinh tế trong các chuỗi cung ứng khu vực, đặc biệt là chuỗi điện tử, máy móc – thiết bị, năng lượng và logistics. Theo báo cáo ngoại thương được MTI công bố ngày 17/06/2026, xuất khẩu nội địa phi dầu mỏ của Singapore tăng 38,4%, trong đó xuất khẩu điện tử tăng tới 94,8%, chủ yếu nhờ nhu cầu liên quan đến trí tuệ nhân tạo, mạch tích hợp, sản phẩm lưu trữ dữ liệu và máy tính cá nhân. Điều này tạo nền tảng thuận lợi cho nhóm HS 85 và HS 84, đồng thời phản ánh việc Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng điện tử, linh kiện, máy móc và thiết bị công nghiệp của khu vực. Đối với HS 27, nguyên nhân chủ yếu đến từ biến động nguồn cung năng lượng và nhu cầu đa dạng hóa nguồn nhập khẩu của Việt Nam. Việc Việt Nam đang tích cực đa dạng hóa nguồn cung dầu thô và sản phẩm dầu mỏ tinh chế cũng đã được báo giới ghi nhận, trong 04 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ tinh chế của Việt Nam tăng 28,7%, trong khi nhập khẩu LPG tăng 34,5%. Trong bối cảnh đó, Singapore tiếp tục phát huy vai trò là trung tâm giao dịch, lưu kho, lọc hóa dầu và phân phối nhiên liệu của khu vực. Nhìn chung, tăng trưởng của ba nhóm HS 85, HS 84 và HS 27 phản ánh sự gắn kết ngày càng sâu giữa Việt Nam và Singapore trong các chuỗi cung ứng công nghiệp, công nghệ và năng lượng.
Ông Cao Xuân Thắng cho biết, Thương vụ Việt Nam tại Singapore sẽ tiếp tục bám sát, cập nhật tình hình, cơ chế, chính sách của địa bàn; tập trung tăng cường triển khai các hoạt động xúc tiến, hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam kết nối giao thương, trưng bày hàng hóa, quảng bá thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm, tăng sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam tại địa bàn; giới thiệu thị trường các ngành hàng của Việt Nam tới các đối tác Singapore và khu vực; hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Singapore; hỗ trợ các đoàn công tác từ Singapore vào Việt Nam tìm kiếm nguồn hàng, xúc tiến đầu tư công nghiệp, thương mại và dịch vụ vào Việt Nam; hỗ trợ các doanh nghiệp từ Việt Nam sang Singapore triển khai các hoạt động xúc tiến.