| Thông tin thị trường quốc tế cập nhật 24/7 từ Bộ Công Thương
Tin tức

Bản tin thị trường Đức số 1 năm 2026

Thương vụ Việt Nam tại Đức cập nhật Bản tin thị trường Đức số tháng 1 năm 2026 để bạn đọc tham khảo.

Tình hình ngoại thương của Đức tháng 11 năm 2025

Xuất khẩu (theo lịch và xuất khẩu hàng hóa điều chỉnh theo mùa), tháng 11 năm 2025

128,1 tỷ euro

-2,5% so với tháng trước

-0,8% so với cùng tháng năm trước

Nhập khẩu (theo lịch và nhập khẩu hàng hóa điều chỉnh theo mùa), tháng 11 năm 2025

115,1 tỷ euro

+0,8% so với tháng trước

+5,4% so với cùng tháng năm trước

Cán cân ngoại thương (lịch và điều chỉnh theo mùa), tháng 11 năm 2025 là +13,1 tỷ euro.

Xuất khẩu hàng hóa của Đức sang các nước EU lên tới 76,1 tỷ euro vào tháng 11 năm 2025, trong khi nhập khẩu từ các nước này đạt tổng cộng 58,7 tỷ euro (theo lịch và điều chỉnh theo mùa). So với tháng 10 năm 2025, xuất khẩu sang các nước EU giảm 4,2% và nhập khẩu từ các nước này giảm 4,0%.

Xuất khẩu hàng hóa của Đức sang các nước ngoài EU đạt 55,1 tỷ euro vào tháng 11.2025, trong khi nhập khẩu từ các nước này đạt 56,3 tỷ euro. So với tháng 10 năm 2025, xuất khẩu sang các nước ngoài EU tăng nhẹ 0,2%; nhập khẩu tăng 6,3%.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ giảm 4,2% so với tháng 10 năm 2025, với giá trị xuất khẩu đạt 10,8 tỷ euro. So với tháng 11 năm 2024, xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm 22,9% sau khi điều chỉnh theo yếu tố lịch và mùa vụ. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 3,4% trong tháng 11 năm 2025 so với tháng 10 năm 2025, đạt 6,5 tỷ euro. Xuất khẩu sang Vương quốc Anh giảm 8,1% so với tháng trước, đạt tổng cộng 6 tỷ euro.

Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 11 năm 2025 đến từ Trung Quốc trị giá 14,9 tỷ euro, giảm 8% so với tháng trước. Nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng 7,9% xuống còn 7,7 tỷ euro. Nhập khẩu từ Vương quốc Anh tăng 10,9% lên 3,4 tỷ euro trong cùng kỳ.

Giá nhập khẩu, tháng 11 năm 2025

-1,9% so với cùng tháng năm trước

+0,5% so với tháng trước

Tác động lớn nhất đến diễn biến chung của giá nhập khẩu trong tháng 11 năm 2025 một lần nữa là sự sụt giảm giá năng lượng, giảm 15,7% so với tháng 11 năm 2024. Tuy nhiên, so với tháng 10 năm 2025, giá năng lượng đã tăng trung bình 3,1%.

Giá nông sản nhập khẩu rẻ hơn 3,2% so với cùng kỳ năm trước (+0,1% so với tháng 10 năm 2025). Giá ca cao nguyên liệu thấp hơn 28,0% so với tháng 11 năm 2024 và thấp hơn 5,3% so với tháng 10 năm 2025. Giá lợn sống rẻ hơn 22,1% so với tháng 11 năm 2024 (-5,5% so với tháng 10 năm 2025). Giá ngũ cốc cũng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước (-6,4% so với tháng 11 năm 2024, nhưng +1,1% so với tháng 10 năm 2025). Ngược lại, giá cà phê nguyên liệu lại cao hơn đáng kể so với năm trước (+23,0% so với tháng 11 năm 2024, nhưng -0,9% so với tháng 10 năm 2025). Giá gia cầm và trứng cũng cao hơn so với năm trước (+15,2% so với tháng 11 năm 2024 và +0,8% so với tháng 10 năm 2025).

Hàng tiêu dùng nhập khẩu (cả hàng tiêu dùng nhanh và hàng tiêu dùng dài hạn) rẻ hơn 0,3% trong tháng 11 năm 2025 so với năm trước (0,0% so với tháng 10 năm 2025). Trong khi giá hàng tiêu dùng nhanh hầu như không thay đổi so với năm trước và tháng trước (-0,1% so với tháng 11 năm 2024 và 0,0% so với tháng 10 năm 2025), hàng tiêu dùng dài hạn nhập khẩu lại rẻ hơn 1,5% so với năm trước (+0,1% so với tháng 10 năm 2025).

Giá xuất khẩu, tháng 11 năm 2025

+0,3% so với cùng tháng năm trước

+0,2% so với tháng trước

Giá hàng tiêu dùng xuất khẩu cao hơn 0,3% so với tháng 11 năm 2024, nhưng thấp hơn 0,3% so với tháng 10 năm 2025.

Giá cà phê (đã khử caffeine hoặc rang) được xuất khẩu với giá cao hơn 32,6% so với tháng 11 năm 2024 (-4,1% so với tháng 10 năm 2025). Ngược lại, bơ và các chất béo khác từ sữa có giá rẻ hơn đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái (-35,2% so với tháng 11 năm 2024 và -6,5% so với tháng 10 năm 2025), tương tự như khối ca cao, bơ ca cao, chất béo ca cao, dầu ca cao và bột ca cao (-25,8% so với tháng 11 năm 2024, nhưng +0,4% so với tháng 10 năm 2025).

Xuất khẩu năng lượng có giá rẻ hơn đáng kể ở mức -6,2% so với tháng 11 năm 2024. Tuy nhiên, giá đã tăng 6,3% so với tháng 10 năm 2025. Khí đốt tự nhiên rẻ hơn 7,3% so với cùng kỳ năm trước (+4,9% so với tháng 10 năm 2025), trong khi giá các sản phẩm dầu mỏ thấp hơn 4,2% so với tháng 11 năm 2024 (nhưng +3,7% so với tháng 10 năm 2025).

Hàng nông sản xuất khẩu cũng có giá thấp hơn so với cùng kỳ năm trước (-2,3%). So với tháng 10 năm 2025, giá đã giảm 0,2%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tháng 12 năm 2025

+1,8% so với tháng 12/2024

+0,0% so với tháng 11/2025

+2,2% trung bình năm so với năm 2024

Tỷ lệ lạm phát tại Đức dự kiến ​​ở mức +1,8% trong tháng 12 năm 2025. Tỷ lệ này được đo bằng sự thay đổi của Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) so với cùng kỳ năm trước. Theo kết quả sơ bộ từ Cục Thống kê Liên bang (Destatis), giá tiêu dùng sẽ không thay đổi so với tháng 11 năm 2025 (0,0%). Tỷ lệ lạm phát bình quân hàng năm cho năm 2025 dự kiến ​​ở mức +2,2%. Tỷ lệ lạm phát không bao gồm thực phẩm và năng lượng, thường được gọi là lạm phát lõi, dự kiến ​​ở mức +2,4% trong tháng 12 năm 2025.

Sản xuất trong công nghiệp

Tháng 11 năm 2025 (theo thực tế, tạm thời):

+0,8% so với tháng trước (điều chỉnh theo mùa và theo lịch)

+0,8% so với cùng tháng năm trước (lịch đã điều chỉnh)

Sự phát triển tích cực trong sản xuất tháng 11 năm 2025 chủ yếu là do sự tăng trưởng của ngành công nghiệp ô tô (đã điều chỉnh theo mùa và lịch +7,8% so với tháng trước). Sự tăng trưởng trong ngành cơ khí (+3,2%) và bảo dưỡng, lắp ráp máy móc (+10,5%) cũng tác động tích cực đến kết quả chung. Ngược lại, sự sụt giảm trong sản xuất năng lượng (-7,8%) đã gây ảnh hưởng tiêu cực.

Sản xuất công nghiệp (sản xuất chế tạo không bao gồm năng lượng và xây dựng) tăng 2,1% trong tháng 11 năm 2025 so với tháng 10 năm 2025, sau khi điều chỉnh theo mùa và lịch. Sản xuất hàng hóa vốn tăng 4,9%. Sản xuất hàng hóa trung gian giảm 0,8% và sản xuất hàng tiêu dùng giảm 0,3%. Ngoài ngành công nghiệp, sản lượng xây dựng giảm 0,8%.

Nguồn: Statistisches Bundesamt, Cục Thống kê liên bang của Đức 

Thương mại song phương giữa Việt Nam và Đức

Theo Cục Thống kê Liên bang Đức (Destatis), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Đức – Việt Nam trong 10 tháng năm 2025 đạt trên 20 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa có nguồn gốc Việt Nam của Đức đạt 17,13 tỷ USD, tăng 24% so với 10 tháng của năm 2024. Như vậy, theo số liệu thống kê của Đức, hàng hóa Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Đức trong 10 tháng đã đạt trên 17 tỷ USD (nhiều hơn 7,63 tỷ USD so với số liệu thống kê của Việt Nam).

Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Đức đạt trên 13,66 tỷ USD, tăng 16,6% so với năm 2024. Kim ngạch thương mại song phương với Đức chiếm gần 20% kim ngạch thương mại của Việt Nam với Liên minh châu Âu. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Đức đạt trên 9,5 tỷ USD, tăng gần 20% so với năm 2024, chiếm 18% xuất khẩu Việt Nam sang EU và nhập khẩu đạt 4,1 tỷ USD, chiếm 25% nhập khẩu của Việt Nam từ EU.

* Về xuất khẩu

Xuất khẩu nhóm nông thủy sản là điểm sáng trong xuất khẩu sang Đức với kim ngạch đạt trên 1,9 tỷ USD, tăng 64% so với năm trước. Nổi bật nhất là xuất khẩu cà phê với kim ngạch đạt trên 1,22 tỷ USD, tăng 103% về giá trị và 48,5% về lượng. Đức hiện là thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu sang Đức chiếm 13,7% xuất khẩu cà phê của Việt Nam ra thế giới. Bên cạnh đó, các mặt hàng khác cũng tăng trưởng tốt như thuỷ sản đạt trên 224,55 triệu USD, tăng 11%; hạt điều đạt trên 215,62 triệu USD, tăng 42%; hạt tiêu đạt 123,76 triệu USD tăng 36%; rau quả đạt khoảng 84 triệu USD, tăng 39%.

Với nhóm hàng chế biến, chế tạo, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 6,97 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2024. Trong đó, tăng mạnh ở mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt trên 1,38 tỷ USD, tăng 31%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt trên 1,43 tỷ USD, tăng 8%; dệt may đạt trên 905 triệu USD, tăng 14%. Một số mặt hàng ghi nhận giảm như điện thoại các loại và linh kiện đạt trên 754,72 triệu USD, giảm 9%; giày dép đạt trên 737,82 triệu USD, giảm 4%; đồ chơi, dụng cụ thể thao đạt trên 103,2 triệu, giảm 5%; sản phẩm mây, tre, cói thảm đạt 32,49 triệu USD, giảm 14%.

* Về nhập khẩu

Năm 2025, Đức là thị trường cung cấp hàng hoá lớn nhất cho Việt Nam tại EU với kim ngạch nhập khẩu từ Đức đạt 4,1 tỷ USD, chiếm 25% nhập khẩu của Việt Nam từ EU. Các mặt hàng nhập khẩu chính từ Đức bao gồm: máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng 1,6 tỷ USD, dược phẩm 400,7 triệu USD, hoá chất và sản phẩm hoá chất 546 triệu USD, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện 231,3 triệu USD.

Thương vụ Việt Nam tại Đức

Nội dung liên quan