| Thông tin thị trường quốc tế cập nhật 24/7 từ Bộ Công Thương
Kim ngạch xuất khẩu

Giới thiệu về thị trường các sản phẩm từ sắn Đài Loan

Theo đề nghị của doanh nghiệp trong nước, Thương vụ Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc xin giới thiệu thông tin về thị trường các sản phẩm về sắn.

 

1. Về thuế nhập khẩu, các sản phẩm từ sắn, tinh bột sắn theo mã HS có các dòng thuế nhập khẩu vào Đài Loan như sau:

  • Với nhóm HS 07141010003 (Mô tả tiếng Anh: Manioc (Cassava), fresh, chilled or dried) thuế nhập khẩu MFN cho các sản phẩm này là 5%. (Quy định nhập khẩu mã B01; F01).
  • Với nhóm HS 07141020001  (Mô tả tiếng Anh: Manioc (Cassava), frozen) thuế nhập khẩu MFN cho các sản phẩm này là 20%. (Quy định nhập khẩu mã F01).
  • Với nhóm HS 19030010004 (Mô tả tiếng Anh: Products prepared from manioc starch (tapioca), in the form of flakes, grains, pearls, or in similar forms) thuế nhập khẩu MFN cho các sản phẩm này là 7%. (Quy định nhập khẩu mã F01).
  • Với nhóm HS 19030020002 (Mô tả tiếng Anh: Products prepared from sago starch (sago), in the form of flakes, grains, pearls, or in similar forms) thuế nhập khẩu MFN cho các sản phẩm này là 14%. (Quy định nhập khẩu mã F01).
  • Với nhóm HS 19030030000 (Mô tả tiếng Anh: Other substitutes of heading 19.03) thuế nhập khẩu MFN cho các sản phẩm này là 17%. (Quy định nhập khẩu mã F01).
  • Với nhóm HS 11081410001 (Mô tả tiếng Anh: Manioc (cassava) starch, for edible use) thuế nhập khẩu MFN cho các sản phẩm này là 7%. (Quy định nhập khẩu mã F01).
  • Với nhóm HS 11081420009 (Mô tả tiếng Anh: Manioc (cassava) starch, for non-edible use) thuế nhập khẩu MFN cho các sản phẩm này là 7%

Trong đó:

  • Với mã quản lý B01: Việc nhập khẩu phải tuân theo quy định được nêu trong "Danh sách các mặt hàng thuộc diện kiểm dịch động thực vật" và các yêu cầu kiểm dịch liên quan của Cơ quan Qản lý Kiểm nghiệm và phòng dịch (APHIA).
  • Với mã quản lý F01: Việc nhập khẩu phải tuân theo "Quy định về kiểm tra thực phẩm và các sản phẩm liên quan nhập khẩu". Nhà nhập khẩu phải xin phép kiểm tra từ Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA).

2. Về quy mô thị trường

Theo số liệu thống kê của Cơ quan quản lý Ngoại thương Đài Loan (TITA), năm 2025, mặc dù nhập khẩu sắn và các sản phẩm từ bột sắn của Đài Loan ghi nhận mức tăng trưởng nhất định so với năm trước, quy mô thị trường nhìn chung vẫn ở mức vừa phải.

Theo đó, đối với nhóm HS071410, thống kê của TITA cho thấy, năm 2025, tổng kim ngạch nhập khẩu sắn (HS 071410) của Đài Loan chỉ đạt 52.553 kg, tăng 87,36% so với năm 2024 với toàn bộ lượng nhập khẩu trong năm 2025 đến từ Indonesia, chiếm 100% thị phần, trong khi Costa Rica – từng xuất khẩu sang Đài Loan năm 2024 – không còn phát sinh kim ngạch. Cơ cấu này cho thấy nhu cầu nhập khẩu sắn tươi của Đài Loan mang tính thời điểm, không ổn định và không hình thành thị trường cạnh tranh thực sự.

(Nguồn: TITA)

Trong khi đó, đối với nhóm sản phẩm mã HS1903, thống kê của TITA cho thấy, quy mô nhập khẩu là không lớn, năm 2025, Đài Loan chỉ nhập khẩu 740.662 kg nhóm hàng này, tăng 12,1% so với năm 2024. Đây là phân khúc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nhóm sản phẩm từ sắn, song xét trong tổng thể cơ cấu nhập khẩu nguyên liệu công nghiệp của Đài Loan, quy mô này vẫn không lớn.

Thống kê của TITA cũng cho thấy, thị trường có mức độ tập trung rất cao khi Thái Lan chiếm gần như tuyệt đối với 95,97% thị phần (710.840 kg). Việt Nam đứng thứ hai nhưng chỉ đạt 3,59% thị phần (26.589 kg). Các nguồn cung khác như Indonesia, Ấn Độ, Malaysia chỉ đóng vai trò bổ sung rất nhỏ.

(Nguồn: TITA)

Đối với mã HS 110814 – phân khúc quan trọng nhất trong nhóm sản phẩm từ sắn, năm 2025, Đài Loan nhập khẩu 320,47 nghìn tấn, tăng 4,99% so với năm 2024. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu lại giảm mạnh 20,02%, chỉ còn 131,7 triệu USD so với 164,7 triệu USD năm trước.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu sử dụng tinh bột sắn tại Đài Loan không tăng tương ứng về giá trị, mà chủ yếu là điều chỉnh về lượng trong bối cảnh giá nhập khẩu giảm, phản ánh sức ép cạnh tranh và đặc điểm thị trường tiêu thụ hạn chế.

Thống kê của TITA cho thấy, cơ cấu nguồn cung cũng tiếp tục tập trung cao khi Thái Lan tiếp tục là nhà cung cấp áp đảo, chiếm 75,78% về lượng và 77,41% về giá trị, song cả lượng (-3,76%) và đặc biệt là giá trị (-25,06%) đều giảm mạnh. Việt Nam giữ vị trí thứ hai với 16,30% thị phần về lượng, tăng trưởng 23,33% về khối lượng; tuy nhiên giá trị xuất khẩu giảm 12,16%, cho thấy giá đơn vị bị kéo xuống đáng kể.

Lào và Indonesia ghi nhận mức tăng rất mạnh về lượng (lần lượt +86,35% và +309,60%), song tổng thị phần cộng lại vẫn chỉ quanh 7–8%, mang tính bổ sung hơn là thay đổi cục diện thị trường. Các nguồn cung khác như Trung Quốc, Brazil, Nhật Bản, Ấn Độ và Hoa Kỳ chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, không có vai trò đáng kể.

(Nguồn: TITA)

3. Về danh sách các nhà nhập khẩu:

Doanh nghiệp xuất khẩu muốn mở rộng thị trường tại Đài Loan có thể gửi thông tin giới thiệu về năng lực (tiếng Anh hoặc tiếng Trung dạng chữ phồn thể), kèm danh thiếp của cán bộ bán hàng cho Thương vụ theo phương thức sau để được giới thiệu nhà nhập khẩu : 

Thương vụ, Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc

Vietnam Economic Cultural Office in Taipei- Commercial Division

Add: 3F. - 1, No.101 Songjiang Road, Zhongshan District, Taipei 10486, Taiwan.

Tel: +886 -2- 25036840

Fax: +886 -2- 25036842

Email: tw@moit.gov.vn

Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc (Trung Quốc)

Nội dung liên quan