(24/04/2020)

Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu

Thổ Nhĩ Kỳ điều chỉnh Quy chế Nhập khẩu để sửa đổi, bổ sung việc áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung đối với một số mặt hàng

Ngày 18 tháng 4 vừa qua, Công báo Thổ Nhĩ Kỳ đã đăng Quyết định của Tổng thống về Quyết định Bổ sung Quy chế Nhập khẩu các số 2423 và 2424, tiếp đó là các Quyết định 2429 và 2430 ngày 21 tháng 4 quy định tăng thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng. Cụ thể như sau:

Quyết định Bổ sung Quy chế Nhập khẩu số 2423 áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung từ 14% đến 22% đối với hầu hết các mặt hàng sắt thép thuộc chương 72 kể từ thời gian ban hành (tức ngày 18 tháng 4) đến ngày 15 tháng 7 năm 2020.

Quyết định Bổ sung Quy chế Nhập khẩu số 2424 áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung từ 5% đến 25% đối với một số mặt hàng: các loại keo (nhóm mã HS 3506), tấm nhựa và các sản phẩm từ tấm nhựa (nhóm mã HS 3920, 3921, 3926), chỉ sợi cao su (nhóm mã HS 4007), ốc vít và bu-lông (nhóm mã HS 7318), dây và que hàn (mã HS 8311.20), bơm chân không (mã HS 8414.10), máy ép thủy lực (mã HS 8462.91), máy biến thế công suất không quá 1 KVA (mã HS 8504.31), máy biến đổi tĩnh điện (mã HS 850440, bao gồm cả UPS), thiêt bị tín hiệu âm thanh (mã HS 8512.30), loa và bộ loa (mã HS 8518.21 và 8518.22), các loại rơ-le (mã HS 8536.49), máy đo điện (mã HS 9030.31, 9030.32 và 9030.33), đồng hồ đeo tay (nhóm mã HS 9101), đèn điện (HS 9405), Gậy và bộ gậy chơi gôn (HS 9506), khuy bấm và khóa kéo (HS 9606)… Thời hạn áp dụng thuế từ ngày ban hành đến ngày 30 tháng 9 năm 2020.

Quyết định Bổ sung Quy chế Nhập khẩu số 2429 áp dụng thuế nhập khẩu bố sung từ 8% đến 35% từ ngày ban hành đến ngày 30 tháng 9 năm 2020 đối với một số mặt hàng: Băng dính một mặt (nhóm HS 3005.90), vali, túi, cặp (nóm HS 4202), đồ da (nhóm HS 4203), vải dệt thoi từ lông cừu (HS 5111 và 5112), sợi và vải dệt thoi từ bông (nhóm HS 5205, 5206, 5208, 5209, 5210, 5211, 5212), vải dệt thoi từ sợi lanh (nhóm HS 5309), sợi và vải từ sợi tổng hợp (nhóm HS 5402, 5407 đến 5408, 5509 đến 5516), vải không dệt (nhóm mã HS 5603), dây và lưới (nhóm HS 5608), các loại thảm (nhóm HS 5701 đến 5705), các loại vải (nhóm HS 5801 đến 5811 và 5901 đến 5903 và 6001 đến 6006), hàng may mặc (hầu như cả Chương 61, 62 và 63), hàng da giầy (hầu như cả Chương 64, 65), mũ và lông (chương 66 và 67).

Quyết định Bổ sung Quy chế Nhập khẩu số 2430 áp dụng thuế nhập khẩu bố sung từ 4% đến 40% từ ngày ban hành đến ngày 30 tháng 9 năm 2020 đối với một số mặt hàng: một số hóa chất (HS 2942.29), bộ mầu vẽ (HS 3213), nước hoa và chất thơm (nhóm HS 3302 đến 3307), xà phòng (HS 3401), chất làm sạch, (HS 3402), chất bôi trơn (HS 3403), sáp nhân tạo (HS 3404), chất đánh bóng (HS 3405), nến (HS 3406), sáp nặn (HS 3407), keo (HS 3506), phim chụp (HS 3701), ống nhựa (HS 3701, 3907), đồ dùng nhà tắm và các sản phẩm từ nhựa (HS 3922 đến 3926), lốp và săm xe cá loại (HS 4011), gỗ và gỗ dán (từ 4411 đến 4421), giấy các loại (HS 4803 đến 4805 và từ 4817 đến 4823), tem (HS 4907), đề-can (HS 4908), bưu thiếp (HS 4909), đá cẩm thạch (HS 6802), sản phẩm từ xi-măng (HS 6810), các sản phẩm gốm sứ (HS 6911 đến 6914), một số sản phẩm từ thủy tinh (HS 7009 đến 7013), sợi thủy tinh (HS 7019), đồ trang sức (HS 7117), một số sản phẩm sắt thép (HS 7214 đến 7217 và 7228), ống thép (HS 7303), kết cấu thép (7308), sản phẩm thép (HS 7313 đến 7323), sản phẩm bằng đồng và nhôm (HS 7418 và 7615), các sản phẩm làm từ kim loại thuộc nhóm HS 8201 đến 8215 và từ HS 8302 đến 8311, máy móc thiết bị thuôc chương 84, các loại thiết bị điện thuộc chương 85 (nhưng không bao gồm điện thoại di động), một số loại phương tiện thuộc chương 87, kính mắt (HS 9003), thiết bị y học (HS 9018), đồng hồ (HS 9102 đến 9105), đồ nội thất (HS 9401 đến 9405),  xe đạp (HS 9503), dụng cụ tập thể thao (HS 9506), chổi và bàn chải (HS 9603), bút bi (HS 9608), bút chì (HS 9609), bật lửa ga (HS 9613), một số sản phẩm khác thuộc chương 96, tranh vẽ (HS 9701)

Tuy không nêu lý do việc áp dụng nhưng nhiều khả năng việc nâng thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng là nguyên liệu sản xuất của một số ngành sản xuất trong thời hạn khoảng 6 tháng có thể được coi là động thái bảo hộ các doanh nghiệp sản xuất trong nước trước tác động bất lợi của dịch Covid-19.

Việc tăng thuế này tác động đáng lo ngại đến một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ, nhất là mặt hàng xơ sợi, dệt may, vali-túi-cặp, da giầy ... Ngoài ra, một số mặt hàng cũng đang phải chịu thuế chống bán phá giá như ống thép inox, dây và que hàn, xơ và sợi tổng hợp, gỗ dán, bật lửa ga…Do đó, khả năng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới sẽ tiếp tục sụt giảm, nhất là khi đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ mất giá liên tục so với đô la Mỹ đã lên tới gần 7 TL đổi được 1 USD (mất giá khoảng 16,5% kể từ đầu năm 2020). Điểm đáng lưu ý là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam sang thị tường này là điện thoại di động (HS 8517) không bị áp thuế bổ sung theo những quyết định này.

Các mặt hàng hàng vải không dệt được dùng trong sản xuất khẩu trang và bộ đồ chống dịch cũng bị áp thuế bổ sung trong khi Thổ Nhĩ Kỳ đang xuất khẩu nhiều các loại vải không dệt này, ngoại trừ loại vải không dệt dùng làm lớp kháng khuẩn (melt-blown non-woven fabric) hiện còn đang bị áp dụng giấy phép xuất khẩu.

 

Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ