(04/12/2017)

Phân tích thị trường Thụy Sỹ

Trong các tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thuỵ Sỹ có xu hướng giảm khoảng 3-5%%, và nhập khẩu vào Thuỵ Sỹ tăng trung bình 10-20% so với cùng kỳ năm trước.
Phân tích thị trường Thụy Sỹ

 

  1. I.    Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu thương mại song phương năm 2017

Tình hình xuất khẩu: trong 10 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch XNK thương mại 2 chiều đạt mức ổn định mức cao (tổng kim ngạch 1,171 tỷ CHF, nhập khẩu từ VN đạt 1,17 tỷ CHF ,xuất khẩu sang VN đạt  520 Tr CHF).

Ước thực hiện cả năm 2017 đạt  trên 2,1 tỷ CHF tương đương trên 2,2 tỷ USD (Thuỵ Sỹ có mức tăng xuất khẩu sang VN 19,3%, giảm nhập khẩu từ VN  5,9% s cùng kỳ năm trước)

 

         

ĐVT: CHF

Năm

Tổng
kim ngạch

Xuất khẩu

(TS-VN)

Tăng/Giảm
(%)

Nhập khẩu

(TS-VN)

Tăng/Giảm
(%)

2015

1,473,121,597

977,117,146

-

496,004,451

-

2016

2,010,272,152

1,467,954,885

50.23

542,317,267

9.34

2017

2,028,365,609

1,381,358,653

(5.90)

647,006,956

19.30

Bảng số liệu chi tiết kim ngạch XNK  2015-2017

Đánh giá chung trong cả năm 2017, xu hướng chính sách và các chương trình hỗ trợ XTTM Thuỵ Sỹ nhằm tăng xuất khẩu hàng cho DN Thuỵ Sỹ đã gây ảnh hưởng lớn đến cán cân thương mại 2 chiều không chỉ riêng cho Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến các nước đang có thâm hụt mậu dịch (về xuất siêu sang Thị trường Thuỵ Sỹ). Tuy nhiên, Việt Nam xuất siêu trong nhiều năm trở lại đây.

Trong các tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu của VN sang Thuỵ Sỹ có xu hướng giảm khoảng 3-5%%, và nhập khẩu vào Thuỵ Sỹ tăng trung bình 10-20% so với cùng kỳ năm trước. (Nguồn Hải quan Thuỵ Sỹ).

Nguyên nhân:  

+         Do chính sách XTTM nhằm hỗ trợ DN Thuỵ Sỹ tăng xuất khẩu hàng cho DN, đặc biệt các DN vừa và nhỏ.

+          Chính sách giữ tỷ giá CHF cao so với đồng Euro, USD đã làm lợi cho các nhà đầu tư Thuỵ Sỹ ra nước ngoài (thuê nhân công, thuê đất, chi phí tại nước ngoài giảm). Tạo lợi thế cho FDI của các DN có vốn Thuỵ Sỹ khi sử dụng CHF.

+         Việc tăng xuất khẩu của VN vào thị trường do các nguyên nhân chủ yếu sau: (i) VN có mạnh về SP nông nghiệp, chế biến thuỷ sản, các DN CN sử dụng FDI sẽ có lợi thế khi đầu tư vào VN bằng CHF và XK SP của họ từ VN vào Châu Âu nhìn chung vẫn là thế mạnh; (ii) Xu hướng hỗ trợ XK hàng VN đang được Chính phủ khuyến khích thông qua các chương trình như nông nghiệp CNC, đánh bắt thuỷ sản…(iii) các DN có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư SX, chế biến tại VN và xuất trở lại thị trường Châu Âu.

+Về FDI: Hiện nay Thuỵ Sỹ có hơn 110 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đạt trên 2,2 tỷ USD.Thuỵ Sỹ có chiến lược Hợp tác phát triển mới của Thụy Sĩ dành cho Việt Nam giai đoạn 2017-2020.

(Theo dự báo, từ nay đến cuối năm 2017, nguồn vốn FDI có thể sẽ thiết lập thêm các kỷ lục mới. Dự báo này hoàn toàn có cơ sở khi sau các chuyến thăm cấp cao của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đến Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản trong thời gian qua, nhiều bản ghi nhớ hợp tác đầu tư, hợp đồng đầu tư hợp tác kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước đã được ký kết. Động lực thu hút nhà đầu tư nước ngoài từ các quốc gia mà lãnh đạo Chính phủ đến thăm và tham dự diễn đàn doanh nghiệp là rất lớn. Ngoài hai nhà đầu tư lớn là Hàn Quốc và Nhật Bản, sự quan tâm đầu tư của các nhà đầu tư khác như Đức, Hà Lan, Thụy Sỹ…, đặc biệt là Mỹ, đang dần được hiện thực hóa thông qua các dự án cụ thể)

II. Các chính sách thương mại và quản lý xuất nhập khẩu mới

Hiện nay, nhiều chính sách thương mại của Thuỵ Sỹ đang được thay đổi và có hiệu lực từ năm 2017 về bảo hộ DN XNK, tiêu chuẩn hàng hoá, bảo hộ sở hữu trí tuệ và đăng ký DN mới, đầu tư ra nước ngoài

Về chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Thuỵ Sỹ: thường linh hoạt và thay đổi theo yêu cầu của thị trường đối với nhiều nhóm hàng (như nông sản) và được Chính phủ LB trợ cấp mạnh.

Rào cản kỹ thuật và thương mại: Tiêu chuẩn hàng XNK của Thuỵ Sỹ có hệ thống riêng, phần lớn hài hoà với tiêu chuẩn EU. Tuy nhiên theo tùng ngành hàng và các chuỗi cung ứng, họ có thể bổ sung các tiêu chuẩn phụ để nâng cao chất lượng/ hạn chế hàng của các đối tác (ví dụ các chuỗi cung ứng lớn như: Migros, Denner, C&A có hệ thống các tiêu chuẩn phụ về chất lương, bảo quản, bao bì nhãn mác…)

 Vận tải: Các DN Thuỵ Sỹ sử dụng phương pháp nhập khẩu qua đường hàng không trực tiếp cho các mặt hàng tươi sống (đạt khoảng 15 đến 20% tổng kim ngạch XNK trong tỷ trọng nhóm hàng nông thuỷ sản). Các hãng vận tải Cargo có giá rẻ cạnh tranh hiện nay là Thai Airways, Turkish Airways …

 Thanh toán: Các chuỗi cung ứng có hệ thống thanh toán riêng/ hợp đồng với các nhà cung ứng. Nhóm DN nhỏ và vừa sủ dụng các loại hợp đồng thanh toán dưới nhiều hình thức. Một số DN Việt Kiều lớn, sử dụng công ty chi nhánh tại VN để sản xuất, chế biến và trực tiếp xuất khẩu.

 III.Phân tích dung lượng thị trường, thị hiếu tiêu dùng, động thái của các đối thủ cạnh tranh với Việt Nam, xu hướng biến động nhu cầu nhập khẩu các tháng cuối năm 2017 và 2018 đối với các mặt hàng tại thị trường

Dung lượng thị trường: đối với các mặt hàng thuỷ sản, nông sản, đồ điện tử là khá tốt, và ổn định trong các năm gần đây.

Thị hiếu tiêu dùng:

-       Các siêu thị, chuỗi phân phối lớn nhập hàng VN theo các kênh của DN Châu Âu, dưới nhãn mác đồng thương hiệu (Tên nhà nhập khẩu/ siêu thị và tên nhà SX, XK của VN), được người tiêu dùng quan tâm hơn (với các mặt hàng thuỷ sản, nông sản).

-       Hệ thống các DN Châu Á (bao gồm DN Việt Kiều) trong 2 năm trở lại đây đã chú ý xây dưng thương hiệu riêng của mình, và phân phối vào phân khúc các nhà hàng/ bán tại siêu thị.

Động thái của các đối thủ cạnh tranh với Việt Nam, xu hướng biến động nhu cầu nhập khẩu các tháng cuối năm 2017và 2018  đối với các mặt hàng:

Hàng Việt Nam do hệ thống phân phối chưa có tại Thuỵ Sỹ nên chịu áp lực cạnh tranh rất lớn. Các chuỗi phân phối lớn nhập hàng VN theo các kênh của DN Châu Âu, dưới nhãn mác đồng thương hiệu sẽ được hưởng lợi nhuận lớn hơn nhiều so với các nhà cung cấp của VN (DN Xuất khẩu VN). Xu hướng nhóm DN Thái land, Trung Quốc, Ấn độ và Srilanca… sẽ đẩy mạnh việc liên kết sản xuất và ché biến với các công ty vốn FDI Thuỵ Sỹ đặt tại nước họ. Do vậy, nếu DN VN không thay đổi phương thức, quy mô kinh doanh, tạo các liên kết, xây dựng SP XK đồng thương hiệu… sẽ gặp nhiều bất lợi trong tương lai.

Thương vụ Việt Nam tại Thụy Sỹ