ĐẤT NƯỚC/LÃNH THỔ - Brazil

Thông tin cơ bản

Tên đầy đủ

Cộng hòa liên bang Bra-xin

Vị trí địa lý

Nằm ở phía đông Nam Mỹ, giáp với Đại Tây Dương

Diện tích Km2

8,511,965

Tài nguyên thiên nhiên

Boxit, vàng, quặng sắt, mangan, niken, photphat, thiếc, urani, dầu khí, thủy năng, gỗ xẻ

Dân số (triệu người)

207

Cấu trúc dân số

0-14 tuổi: 22.33%
15-24 tuổi: 16.36%
25-54 tuổi: 43.86%
55-64 tuổi: 9.12%
Trên 65 tuổi:8.33%

Tỷ lệ tăng dân số (%)

0.73

Dân tộc

Người da trắng 53.7%, Người da mầu 38.5%, người da đen 6.2%, khác (bao gồm người Nhật bản, Arap, Amerindian) 0.9%, khác 0.7%

Thủ đô

Brasilia

Quốc khánh

7/9/1822

Hệ thống pháp luật

Tiền tệ

Dựa trên gốc luật La Mã

Real, tỷ giá 3,643

GDP (nghìn tỷ USD)

2.033

Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%)

1.0

GDP theo đầu người (USD)

8.700 (Rs 31.587)

GDP theo cấu trúc ngành

nông nghiệp: 6.2%
công nghiệp: 21% 
dịch vụ: 72.8%

Lực lượng lao động (triệu)

111.6

Lực lượng lao động theo lĩnh vực nghề nghiệp

nông nghiệp: 10% 
công nghiệp: 39.8% 
dịch vụ: 50.2%

Sản phẩm Nông nghiệp

Cà phê, đậu tương, lúa mì, gạo, ngô, mía, ca cao, cam quýt, thịt bò, thịt gà và phụ phẩm

Công nghiệp

Dệt may, giày dép, hóa chất, xi măng gỗ, quặng sắt, thiếc, sắt thép, máy bay, động cơ xe và phụ tùng, máy móc, thiết bị khác

Xuất khẩu (triệu USD)

 217.739

Mặt hàng xuất khẩu

thiết bị vận tải, quặng sắt, đậu tương, ngô, thịt gà, thịt bò, giày dép, cà phê, ô tô

Đối tác xuất khẩu

Trung Quốc, Hoa Kỳ, Argentina

Nhập khẩu (triệu USD)

150.749

Mặt hàng nhập khẩu

Máy móc, sản phẩm hóa chất điện và thiết bị vận tải, dầu, phụ tùng ô tô, điện tử viễn thông

Đối tác nhập khẩu chính

Số lượng người sử dụng internet

Hoa Kỳ, Trung Quốc, Argentina, Đức,Hàn Quốc

139 triệu người (66% dân số)[1]

Nguồn: CIA 2017 và Bộ CN-TM-DV Braxin

*Thể chể - nhà n­ước - Theo thể chế Cộng hòa Tổng thống, chế độ lưỡng viện; Cộng hòa Liên bang (từ năm 1891).

Hiến pháp hiện hành đư­ợc ban hành ngày 5 tháng M­ười năm 1988. Lần sửa đổi gần nhất vào năm 1997.

Có 26 bang là các khu vực hành chính trực thuộc Trung ư­ơng.

Tổng thống và Phó tổng thống đư­ợc bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu trên cùng một lá phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống bổ nhiệm các thành viên của Nội các. Hạ nghị viện của Đại hội Quốc dân gồm 513 thành viên đ­ược bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu bắt buộc, nhiệm kỳ 4 năm. 81 thành viên của Th­ợng nghị viện đư­ợc bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 8 năm. Bốn năm một lần, 1/3 số thành viên của Thư­ợng nghị viện đư­ợc miễn nhiệm. Mỗi bang của Bra-xin đều có cơ quan lập pháp. Bra-xin có 37 đảng phái chính trị. Đảng cầm quyền hiện nay là đảng Dân chủ xã hội. Tháng 10/2018 sẽ diễn ra đợt bầu cử Tổng Thống tiếp theo.

Địa lý: Nằm ở Nam Mỹ Sông A-ma-dôn, con sông lớn nhất thế giới, tưới tiêu cho gần một nửa lãnh thổ của Bra-xin. Tại l­ưu vực thấp của sông A-ma-dôn vẫn còn các cánh rừng mưa nhiệt đới trù phú, mặc dù nhu cầu về đất làm tăng nạn phá rừng Ở khu vực vốn được coi là lá phổi của trái đất này. Phía bắc l­ưu rực sông A-ma-dôn là vùng núi Guy-a-na có đỉnh Pi-cô đa Nê-bli-na cao nhất Bra-xin, 30- 4 m. Phía nam l­ưu vực sông A-ma-dôn là cao nguyên trung tâm với các đồng cỏ rộng. Về phía đông và nam, tiếp giáp với vùng núi của Bra-xin, là một đồng bằng có mật độ dân cư­ đông đúc. Vùng núi của Bra-xin, là một cao nguyên rộng lớn chia thành các thung lũng màu mỡ và các rặng núi.

Các sông chính: A-ma-dôn, 6.448 kml Pa-ra-na, 4.880 km.

Khí- hậu: L­ưu vực sông A-ma-dôn và vùng đông nam có khí hậu nhiệt đới với l­ượng m­ưa lớn. Phần còn lại của Bra-xin hoặc có khí hậu cận nhiệt đới hoặc khí hậu ôn hòa; nhiệt độ trung bình tháng Giêng là 23-290 C; tháng Bảy là 16-240 C. Chỉ ở vùng đông bắc có l­ượng m­ưa nhỏ.

*Kinh tế- Công nghiệp chiếm 21%, nông nghiệp: 6,2% và dịch vụ: 72,8% trong cơ cấu GDP. Bra-xin là một n­ước có nền kinh tế phát triến nhất Nam Mỹ, thứ hai ở Châu Mỹ sau Hoa Kỳ, và nền kinh tế lớn thứ tám trên thế giới.

Trong năm 2017, liên tiếp các cuộc điều tra chống tham nhũng trong chương trình Lava Jato được tiến hành nhằm vào các chính trị gia làm cho tình hình Bra-xin luôn chứa đựng những bất ổn khó lường. Ngay cả Tổng thống đương nhiệm Michael Temer cũng phải chịu sức ép từ chức và đối mặt với nhiều các cáo buộc về tội tham nhũng thụ động và cản trở thi hành pháp luật. Tuy nhiên, những suy giảm về mặt kinh tế những năm trước kèm theo sự không hài lòng từ phía nhân dân đã xuất hiện xu thế hướng tới sự ổn định tương đối về mặt chính trị nhằm tập trung cho các mục tiêu phát triển kinh tế và ổn định tình hình xã hội. Giữa tháng 10 với đa số phiếu thuận, Ủy ban Hiến pháp và pháp luật bác bỏ đơn  của Viện Công tố liên bang cáo buộc các Lãnh đạo cấp cao. Dư luận cho rằng đây một động thái cho thấy sự thỏa hiệp giữa các phe phái nhằm ổn định tình hình ít nhất là cho đến hết nhiệm kỳ hiện tại vào năm 2018. Rất nhiều thay đổi và đấu tranh sẽ có thể tiếp diễn cho đến kỳ bầu cử Tổng thống tại tổng tuyển cử diễn ra vào năm 2018.

Mặc dù đã có sự cải thiện đáng kể về thứ hạng cạnh tranh toàn cầu, (80/137), Bra-xin  vẫn bị xem là quốc gia bảo hộ nền thị trường nội địa khắt khe khi tiếp tục xếp hạng ở vị tri rất thấp ở các chỉ số:tác động của thuế lên đầu tư 136/137, mức thuế 134/137, nhập khẩu 136/137, xuất khẩu 127/137, tác động của thuế lên động lực làm việc 137/137, tranh chấp trong lao động 136/137, dịch vụ tài chính 13/137, niềm tin vào các nhà chính trị 137/137, hiệu quả của đầu tư chính phủ 133/137, điều hành của chính phủ 136/137, môi trường kinh tế vĩ mô 124/137. Ví dụ, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy Bra-xin áp đặt mức thuế trung bình là 8,8% cho tất cả các mặt hàng nhập khẩu, so với 0,6% ở Chilê và 1,6% ở Mỹ. Bra-xin cũng đứng thứ 139/190 quốc gia về sự dễ dàng trong giao dịch qua biên giới, chi phí xuất khẩu từ các cảng chính là Sao Paulo và Rio de Janeiro là gấp đôi Mỹ Latinh. 
Kinh tế Bra-xin năm 2017 vẫn tiếp tục cho thấy nhiều dấu hiệu khởi sắc, thoát ra khỏi khủng hoảng nhưng tốc độ vẫn còn khá chậm, GDP của Bra-xin tăng trưởng 1% trong năm 2017. Các chỉ số về kinh doanh và tiêu dùng đều tăng trưởng tích cực, tuy nhiên lạm phát vẫn ở mức thấp hơn kỳ vọng do sức mua của nền kinh tế chưa thực sự mạnh, thất nghiệp còn ở mức cao. Chỉ số lạm phát giảm còn 3,0% trong năm 2017. Nguyên nhân xuất phát từ việc giảm lạm phát lương thực do thu hoạch hạt cao hơn; Tác động trễ của việc tăng tỷ giá lên giá hàng công nghiệp và sự hồi phục của sản xuất công nghiệp. 
Xuất khẩu của Bra-xin đã tăng 20% ​​so với cùng kỳ năm 2016, và chính phủ đã tăng dự báo thặng dư thương mại lên khoảng 65 tỷ - 70 tỷ USD vào năm 2017, tăng so với mức 60 tỷ USD trước đó. Xuất khẩu chiếm khoảng 12,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Xuất khẩu từ Bra-xin bao gồm các nhóm sản phẩm sau: nông nghiệp (37,7% xuất khẩu) và kim loại (17,7%). Trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, phức hợp đậu nành (13,7%), dầu khí và các dẫn xuất (10,0%) và quặng sắt (8,8%) nổi bật. Việc tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm nêu trên chủ yếu là do tăng năng suất của ngành trong những năm gần đây và do sự tăng trưởng về sức mua của các đối tác thương mại chính (ví dụ Trung Quốc và Ấn Độ). Sự gia tăng thặng dư thương mại năm 2017 là kết quả của sự tăng trưởng xuất khẩu, phần lớn do giá hàng hóa cao hơn (giá xuất khẩu quạng sắt và dầu tăng trong những tháng cuối năm), đặc biệt là hàng kim loại trong nửa đầu năm 2017.
Phục hồi sản xuất công nghiệp trong năm 2017: Sự tăng trưởng này bắt nguồn từ việc gia tăng sản xuất công nghiệp chế biến và sự ổn định trong sản xuất của ngành khai thác.  Đặc biệt đã có một sự phục hồi trong sản xuất hàng tiêu dùng trong những tháng gần đây, do sự gia tăng mạnh mẽ trong sản xuất và xuất khẩu xe ô tô. 
Vấn đề đặt ra chính hiện nay cho nền kinh tế Bra-xin đó vẫn là chỉ số niềm tin kinh doanh vẫn ở mức thấp, sức mua nội địa giảm và chỉ số giá chưa tăng cao như kỳ vọng, thất nghiệp ở mức cao. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu là định hướng của Chính phủ thông qua các giải pháp hỗ trợ tìm kiếm hợp đồng thương mại mới, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn mở rộng bán hàng ra nước ngoài và tập trung hoá các ủy quyền xuất khẩu thông qua một cổng điện tử.
Bảng: Số liệu cơ bản về kinh tế Bra-xin 

 

                           Năm

Chỉ số

2016

2017

2018

(dự kiến)

2019

(dự kiến)

2020

(dự kiến)

Tốc độ GDP

-3.6%

 1.0%

 1.9%

 2.1%

 2.2%

CPI

 8.7%

 3.0%

 4.5%

 4.7%

 4.5%

Xuất khẩu hàng hóa (tỷ USD giá FOB)

 $185,2

 $217,7

 $197

 $206

 $216

Nhập khẩu hàng hóa (tỷ USD giá FOB)

 $137,5

 $151

 $163

 $178

 $191

Nguồn: https://www.export.gov/article?id=Brazil-Market-Overview

Một số ngành kinh tế trọng điểm: Công nghiệp chế tạo ô tô, dầu khí và ga, thép và sắt, chế tạo máy móc và thiết bị, nông nghiệp, dệt may.

Bảng: Danh sách 10 mặt hàng xuất, nhập khẩu lớn của Bra-xin năm 2017[1]

STT

Xuất khẩu

Giá trị

Nhập khẩu

Giá trị

1

Hạt có dầu (đậu tương, ngô, mè...)

26 tỷ USD (11,9%)

Nhiên liệu khoáng gồm dầu:

21,6 tỷ USD (chiếm 14,3)

2

Quặng, xỉ, tro:

22,4 tỷ USD (10,3%)

Máy móc, thiết bị điện

20,7 tỷ USD (13,7%)

3

Nhiên liệu khoáng gồm dầu

18,7 tỷ USD (8,6%)

Máy móc bao gồm máy tính:

17,4 tỷ USD (11,5%)

4

Phương tiện vận tải

14,7 tỷ đô la (6,8%)

Phương tiện vận tải

11,2 tỷ USD (7,5%)

5

Thịt

14 tỷ đô la (6,4%)

Hóa chất hữu cơ:

8,4 tỷ USD (5,6%)

6

Máy móc bao gồm máy tính

13,8 tỷ USD (6,4%)

Phân bón:

7,3 tỷ USD (4,9%)

7

Đường, bánh kẹo đường

11,6 tỷ USD (5,3%)

Dược phẩm

6,6 tỷ USD (4,3%)

8

Sắt thép

10,8 tỷ USD (4,9%)

Nhựa, các sản phẩm bằng nhựa

6,5 tỷ USD (4,3%)

9

Bột gỗ

6,4 tỷ đô la (2,9%)

Thiết bị quang học, kỹ thuật, y tế

4,9 tỷ USD (3,2%)

10

Phụ phẩm công nghiệp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi

5,4 tỷ USD (2,5%)

Các hóa chất khác

4,1 tỷ USD (2,7%)

 

                                                                                   Theo Bộ CN- TM- DV Bra-xin

Bảng: 15 đối tác chính trong thương mại của Bra-xin năm 2017

STT

Tên nước

Giá trị (tỷUSD)

1

Trung Quốc

47.5 (21.8%)

2

Mỹ

27 (12.4%)

3

Argentina

17.6 (8.1%)

4

Hà Lan

9.3 (4.2%)

5

Nhật Bản

5.3 (2.4%)

6

Chilê

5 (2.3%)

7

Đức

4.9 (2.3%)

8

Ấn độ

4.7 (2.1%)

9

Mêxico

4.5 (2.1%)

10

Tây Ban Nha

3.8 (1.8%)

11

Ý

3.6 (1.6%)

12

Bỉ

3.2 (1.5%)

13

Hàn Quốc

3.1 (1.4%)

14

Anh

2.8 (1.3%)

15

Nga

2.7 (1.3%)

Theo Bộ CN- TM- DV Bra-xin

* Triển vọng kinh tế năm 2018

Dự báo tình hình kinh tế, xã hội nước sở tại năm 2018

Năm 2018 Bra-xin sẽ tổ chức Tổng tuyển cử và bầu Tổng thống mới, quá trình tranh cử của các đảng phái sẽ như liều thuốc kích thích thị trường với các chính sách được mở rộng hơn cộng với xu thế chung là phục hồi kinh tế, dự báo kinh tế Bra-xin sẽ phục hồi vững hơn so với năm 2017, đạt mức tăng trưởng 1,5 – 2%.

Một số chính sách lớn nhằm tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu mới của Bra-xin

Chính phủ Bra-xin đang chuyển hướng chính sách ưu đãi sang khu vực nông nghiệp, nông thôn và cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, đẩy mạnh xuất khẩu bằng nhiều biện pháp cụ thể:
- Các yếu tố như việc tăng cường ký kết các hiệp định quốc tế, áp dụng chính sách ô tô mới (Route 2030"), hiện đang ở giai đoạn cuối cùng của quá trình chuẩn bị, đã quyết định cho ngành ô tô Bra-xin  giành được không gian xuất khẩu. Đây được đánh giá là là trụ cột cho sự phát triển công nghệ, an toàn xe cộ, hiệu suất năng lượng, khả năng cạnh tranh và tăng sản xuất". Ngoài ra, việc đưa vào sử dụng Cổng thông tin Ngoại thương đơn giản đã giảm chi phí cấp giấy chứng nhận xuất xứ 30% (giao dịch giữa Argentina và Bra-xin ). Theo Bộ Công nghiệp, Ngoại thương và Dịch vụ (MDIC), thời gian cần thiết để ban hành văn bản đã mất từ ​​một ngày xuống còn 30 phút. 
- Mới đây Chính phủ Bra-xin công bố chương trình hỗ trợ tài chính cho nông nghiệp và chăn nuôi với tên gọi "Chương trình thu hoạch". Theo đó, Chính phủ sẽ dành một khoản ngân sách tương đương với gần 60 tỉ USD nhằm hỗ trợ trang trại quy mô vừa và lớn với lãi suất ưu đãi khoảng trên dưới 8% năm tập trung vào các hoạt động như: hỗ trợ chi phí sản xuất, hiện đại hóa phương tiện cơ giới trong nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác và chuồng trại, tu chỉnh lại các tuyến đường quốc lộ tại một số khu vực trọng điểm nông nghiệp, hiện đại hóa một số cảng biển phục vụ xuất khẩu.
- Miễn giảm, giãn hoặc cho nợ thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm đầu vào phục vụ chế biến xuất khẩu. Các loại thuế được miễn giảm trong chương trình này như: thuế nhập khẩu, thuế đánh lên các sản phẩm công nghiệp, phí đóng góp an sinh xã hội... và kể cả thuế lưu thông hàng hóa liên bang.
Theo số liệu của Cục Ngoại thương Bra-xin (Thuộc Bộ Công nghiệp, Ngoại thương và Dịch vụ), năm 2016, các doanh nghiệp đăng ký tham gia chương trình miễn giảm thuế này lên tới con số 1.700 doanh nghiệp, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt khoảng 42,0 tỉ USD, chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu. Hàng hóa tham gia chương trình rất đa dạng nổi bật như thịt gà, ô tô và hóa chất.
Trong thương mại quốc tế Bra-xin thường xuyên thặng dư thương mại với hầu hết các đối tác thương mại chính. Bên cạnh đó, chính sách bảo hộ thị trường nội địa vẫn tiếp tục được đề cao bằng việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm. Theo WTO, Bra-xin là một trong những nước thường xuyên áp dụng các biện pháp phòng vệ nhiều nhất.

Hợp tác trong khối Mercosur:``Thương mại nhiều hơn, rào cản ít hơn`` là mục tiêu hướng đến của các thành viên trong khối. Nhờ sự hội tụ các quan điểm mới giữa các thành viên sáng lập, Mercosur đang tiến hành tái thiết. Một trong những khía cạnh nổi bật của nó là xoá bỏ các rào cản ngăn chặn thương mại trong khối và ngăn chặn các sản phẩm của chúng ta thâm nhập  vào các thị trường khác trên hành tinh. Việc tái thiết này nhằm mục đích biến đổi Nam Mỹ thành một khu vực thương mại tự do rộng lớn. Ví dụ trong số các biện pháp chính đã vượt qua là những hạn chế đối với việc nhập khẩu trái cây cam quýt của Argentina và thông báo của nước này về việc mở cửa thị trường  cho bò thịt Bra-xin.

Bra-xin đang thực hiện các bước để cải thiện cơ sở hạ tầng và giáo dục, mở rộng thương mại và tăng sự hiện diện của các doanh nghiệp đa quốc gia trong việc phát triển trữ lượng dầu mỏ khổng lồ của Bra-xin. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu là định hướng của Chính phủ thông qua các giải pháp hỗ trợ tìm kiếm hợp đồng thương mại mới, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn mở rộng bán hàng ra nước ngoài và tập trung hoá các ủy quyền xuất khẩu thông qua một cổng điện tử.

Các lĩnh vực ngành nghề ưu tiên: Công nghiệp chế tạo ô tô, dầu khí và ga, thép và sắt, chế tạo máy móc và thiết bị, nông nghiệp, dệt may.

Các đối tác thương mại ưu tiên: khối Mercosur, Trung Quốc, Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản.

Các FTAs chính hiện đang tham gia

Bra-xin là một thành viên của khối thương mại Mercosur (Argentina, Paraquay, Uruquay). Đây là FTAs đặt ra các tiêu chuẩn khu vực riêng của mình để hài hòa trong khối. Mỗi quốc gia thành viên phải phê chuẩn tiêu chuẩn trước khi được gia nhập vào Mercosur. Khối Mercosur đã ký FTAs với Chile, Bolivia, Peru, Isarel, Ai Cập.

Chi tiết xem tại: http://www.sice.oas.org/ctyindex/BRZ/BRZagreements_e.asp

* Các biện pháp phòng vệ thương mại và hàng rào kỹ thuật

 Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và theo dõi của Thương vụ Việt Nam tại Bra-xin, trong thời gian qua, Bra-xin là một trong những nước sử dụng nhiều biện pháp phòng vệ thương mại nhất trên thế giới (đặc biệt là chống bán phá giá). Chính quyền sở tại và các Hiệp hội, doanh nghiệp xem đây là một trong những rào cản hữu hiệu nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu đặc biệt khi có sự chênh lệch đáng kể về cán cân thương mại. Trong thời gian từ 2013 đến hết năm 2016 đã có 163 biện pháp chống bán phá giá và  01 biện pháp chống trợ cấp (Ấn Độ) được Bra-xin áp dụng đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu. Tới nay, Bra-xin chưa áp dụng biện pháp tự vệ. Riêng đối với Việt Nam, đã có 06 vụ điều tra chống bán phá giá được khởi xưởng bởi cơ quan chức năng Bra-xin, gần đây nhất là vụ ống thép xuất khẩu. Các nước bị điều tra là Việt Nam, Malaysia và Thái Lan.

-         Bra-xin đang giảm lại trong các vụ kiện thương mại gần đây vì số lượng các vụ điều tra trong năm 2015 giảm xuống còn 38 và vào năm sau là 24, năm 2017, chỉ có 06 trường hợp được bắt đầu, 03 điều tra mới và 03 cuộc đánh giá hoàng hôn. [2] Tuy nhiên đây vẫn là công cụ được sử dụng thường xuyên của Bra-xin.

Bảng: Các vụ việc phòng vệ thương mại liên quan đến Bra-xin tại WTO

 

 

Số lượng các vụ kiện bị kiện ra WTO

Số lượng các vụ kiện đi kiện ra WTO

 

 Bị đơn (16), nước thứ 3 (116)

Nguyên đơn (31)

Các đối tác

Philipin, Sri Lanka, Canada, Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu, Ấn Độ, Argentina

Mỹ, Châu Âu, Canada, Peru, Argentina, Thổ Nhĩ Kì, Mexico, Nam Phi, Indonesia, Thái Lan

Mặt hàng bị kiện

Dừa sấy khô, bột sữa dừa, máy bay, phương tiện vận tải, điều khoản thanh toán khi nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu và giá nhập khẩu tối thiểu, bảo vệ sáng chế, túi sợi đay, lốp xe đắp lại, nho khô, thuế và phí.

Xăng, thịt gia cầm, máy bay dân dụng, xe buýt, cà phê, vải sợi, ống thép, cà phê hòa tan, máy biến thế điện, kim loại silicon, nước cam đóng hộp, đường, bông, thịt  bò.

Nguồn: WTO https://www.wto.org/english/thewto_e/countries_e/brazil_e.htm

 * Thực thi quyền sở hữu trí tuệ

-         Quyền sở hữu trí tuệ: Chủ sở hữu quyền ở Bra-xin tiếp tục đối mặt với những thách thức về quyền sở hữu trí tuệ . Luật sở hữu trí tuệ Bra-xin được ban hành năm 2003. Cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ đang có những cải thiện đang kể trong việc thực thi Luật này. Tuy nhiên, Bra-xin vẫn nằm trong “Danh sách theo dõi” của báo cáo 301 của Mỹ từ năm 2007. Chỉ định này phản ánh những mối quan tâm đáng kể về mức độ giả mạo và vi phạm bản quyền ở Bra-xin, bao gồm cả vi phạm bản quyền trên Internet, cũng như về sự chậm trễ trong kiểm tra các bằng sáng chế.

-          Thông tin về đăng ký bảo hộ tài sản sở hữu trí tuệ xem tại http://www.inpi.gov.br/english