ĐẤT NƯỚC/LÃNH THỔ - Slovenia

Thông tin cơ bản

Tên đầy đủ Cộng hòa Slovenia
Vị trí địa lý Nam âu, thuộc vùng Bancăng
Diện tích Km2 20,273
Tài nguyên thiên nhiên Than, chì, đá xây dựng, năng lượng hydro, rừng
Dân số (triệu người) 1.99
Cấu trúc dân số 0-14 tuổi: 13.4%
15-24 tuổi: 10.3%
25-54 tuổi: 44.2%
55-64 tuổi: 14.7%
Trên 65 tuổi: 17.5%
Tỷ lệ tăng dân số (%) -0.210
Dân tộc Slovene 83.1%, Serb 2%, Croat 1.8%, Bosniak 1.1%, khác hoặc không rõ 12%
Thủ đô Ljubljana
Quốc khánh 25/6/1991
Hệ thống pháp luật Dựa trên hệ thống luật dân sự
GDP (tỷ USD) 58.06
Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%) -2
GDP theo đầu người (USD) 28600
GDP theo cấu trúc ngành nông nghiệp: 2.7%
công nghiệp: 27.6%
dịch vụ: 69.7%
Lực lượng lao động (triệu) 0.923
Lực lượng lao động theo lĩnh vực nghề nghiệp nông nghiệp: 2.2%
công nghiệp: 35%
dịch vụ: 62.8%
Sản phẩm Nông nghiệp Khoai tây, quả mâm xôi, lúa mỳ, đường từ củ cải đường, ngũ cốc, nho, gia súc,gia cầm, cừu
Công nghiệp Luyện sắt và các sản phẩm từ nhôm, nấu kẽm và chì, điện, xe tải, ô tô, máy phát điện, sản phẩm từ gỗ, dệt may, hóa chất, máy công cụ
Xuất khẩu (triệu USD) 28420
Mặt hàng xuất khẩu Hàng công nghiệp, máy móc và thiết bị vận tải, hóa chất, thực phẩm
Đối tác xuất khẩu Đức, Italia, Croatia, Áo, Pháp, Hungary
Nhập khẩu (triệu USD) 29830
Mặt hàng nhập khẩu Máy móc thiết bị vận tải, vốn, hóa chất, nhiên liệu và dầu nhờn, thực phẩm
Đối tác nhập khẩu Đức, Italia, Áo, Pháp, Croatia, Trung Quốc

Nguồn: CIA 2013

 

* Thể chế Nhà nước: Theo thể chế Cộng hoà Tổng thống, chế độ một viện, (từ năm 1991).

Hiến pháp được ban hành ngày 23 tháng 10 năm 1991.

Có 136 thị trấn và 11 thành phố là các đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương.

Quốc hội gồm 90 đại biểu và Tổng thống (được hai nhiệm kỳ) được bầu trực tiếp bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4 năm. Hội đồng Nhà nước gồm 40 thành viên, trong đó 22 thànhviên được bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 4 hoặc 5 năm. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên của Nội các.

* Địa lý: Thuộc Trung – nam Âu. Phần lớn diện tích của Xlô-ve-ni-a là núi. Trên hai dãy núi cao Ka-ra-oan-ken và Giu-li-a có đỉnh Tri-gláp, cao 2.864m. Phía Đông là vùng đồi tiếp giáp với thung lũng Đra-va. Phía tây của Xlô-ve-ni-a là dải bờ biển A-đri-a ngắn.

Sông chính: Sa-va và Đra-va.

Khí hậu: Phía nam và phía tây có khí hậu Địa Trung Hải. Tại phía bắc và phía đông, khí hậu mang tính lục địa cao hơn.

* Kinh tế: Công nghiệp chiếm 35%, nông nghiệp chiếm 5% và dịch vụ: 60% GDP. Xlô-ve-ni-a là khu vực được công nghiệp hoá mạnh và kinh tế phát triển nhất trong liên bang Nam Tư cũ. Xlô - ve-ni-a mức sống xấp xỉ như mức sống của các nước Tây Âu. Công nghiệp bao gồm các ngành sản xuất sắt thép, dệt, chế tạo máy, điện tử và ngành khai thác mỏ. Nông nghiệp chuyên về chăn nuôi bò, cừu… và trồng các loại cây khoai tây, hoa, bia, lúa mì và cây làm thức ăn cho gia súc.

Kinh tế vẫn giữ mức tăng trưởng khá, đạt 3,6% hàng năm; Xuất khẩu đạt 9,2 tỷ USD, nhập khẩu đạt 9,9 tỷ USD;nợ nước ngoài: 4,4 tỷ USD.

* Văn hoá - xã hội: Số người biết đọc, biết viết đạt 99%.

Chính phủ yêu cầu trẻ em phải học 8 năm tiểu học. Hầu hết trẻ em đều đến trường và phần lớn học sinh đều được học qua trung học. Cả nước có 30 trường đại học, có 2 trường đại học tổng hợp là Lu-bli-a-na và trường Ma-ri-bô.

Tuổi thọ trung bình đạt 75,36 tuổi, nam: 71,71; nữ: 79,21 tuổi.

Những danh thắng dành cho du lịch, nghỉ ngơi và giải trí: Các khu nghỉ trượt tuyết trên núi và các khu nghỉ mát ven biển A-đri-a-tích…

* Lịch sử: Người Xlô-ven đến vùng phía tây bán đảo Ban-căng vào thế kỷ VI và VII. Đến thế kỷ IX, khu vực này bị phân chia giữa một số quan cai trị người Đức. Chỉ có người Xlô-ven ở vùng phía Các-ni-ô-la phía nam chống lại được quá trình Đức hoá.

Năm 1335, vùng Các-ni-ô-la trở thành một tỉnh của Áo. Mặc dù bị Áo cai trị cho đến năm 1918, người Xlô - ven vẫn duy trì được bản sắc dân tộc. Việc khuyến khích dùng ngôn ngữ Xlô-ven dưới thời của Na-pô-lê-ông (Pháp) đã khơi dậy phong trào phục hưng dân tộc ở cuối thế kỷ XIX. Tiếp theo sự sụp đổ của Đế quốc áo- Hung, năm 1918, người Xlô-ven liên kết với người Séc-bi, người Crô-a-ti-a và Môn-tê-nê-grô thành lập một nhà nước mới sau có tên là Liên bang Nam Tư, vào năm 1929. Khi Nam Tư trở thành quốc gia liên ang theo đường lối cộng sản chủ nghĩa (1945) thì vùng đất của người Xlô-ven được tổ chức lại thành nước cộng hoà Xlô-ve-ni-a. Năm 1980, sau khi Tổng thống Nam Tư là Ti-tô chết, Liên bang Nam Tư rơi vào các cuộc khủng hoảng sắc tộc. Với tư cách là khu vực giàu có nhất của Nam tư, Xlô - ve-ni-a nối lại mối quan hệ truyền thống với áo. Trong cuộc bầu cử tự do năm 1990, những người theo đường lối dân tộc chủ nghĩa đã chiếm đa số trong Quốc hội của Xlô-ve-ni-a. Quốc hội của Xlô-ve-ni-a tuyên bố đất nước độc lập vào tháng Sáu năm 1991. Sau những thất bại trong một chiến dịch ngắn, các lực lượng của liên bang Nam Tư đã phải rút lui khỏi Xlô- ve-ni-a. Độc lập của Xlô-ve-ni-a được công nhận rộng rãi về mặt ngoại giao trong năm 1992. Ngày 22 tháng 5 năm 1992 được công nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc Xlô-ve-ni-a là nước đi đầu trong các nước cộng hoà thuộc Liên bang Nam Tư cũ xin gia nhập NATO.