ĐẤT NƯỚC/LÃNH THỔ - New Zealand

Thông tin cơ bản

Tên đầy đủ Niudilan
Vị trí địa lý Châu Đại Dương, đảo thuộc biển Nam Thái Bình Dương, phía đông nam của Úc
Diện tích Km2 268,680
Tài nguyên thiên nhiên Khí tự nhiên, mỏ sắt, than đá, cát, gỗ xẻ, thuỷ năng, vàng, đá vôi
Dân số (triệu người) 4.37
Cấu trúc dân số 0-14 tuổi: 20.1%
15-24 tuổi: 14.1%
25-54 tuổi: 40.6%
55-64 tuổi: 11.3%
Trên 65 tuổi: 14%
Tỷ lệ tăng dân số (%) 0.850
Dân tộc Người Maori, người Châu Á, người Châu Âu, người thuộc đảo Thái Bình Dương, da mầu, dân tộc khác
Thủ đô Wellington
Quốc khánh 26/9/1907
Hệ thống pháp luật Dựa theo luật của Anh
GDP (tỷ USD) 128.5
Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%) 2.2
GDP theo đầu người (USD) 28800
GDP theo cấu trúc ngành nông nghiệp: 4.8%
công nghiệp: 24.6%
dịch vụ: 70.6%
Lực lượng lao động (triệu) 2.402
Lực lượng lao động theo lĩnh vực nghề nghiệp nông nghiệp: 7%
công nghiệp: 19%
dịch vụ: 74%
Sản phẩm Nông nghiệp Các sản phẩm từ sữa, thịt cừu non và thịt cừu, lúa mì, lúa mạch, khoai tây, đậu Hà Lan, hoa quả, rau, len, thịt bò, cá
Công nghiệp Chế biến thực phẩm, gỗ và sản phẩm giấy, dệt may, máy móc, thiết bị vận tải, ngân hàng và bảo hiểm, du lịch, khai thác mỏ
Xuất khẩu (triệu USD) 37730
Mặt hàng xuất khẩu Sản phẩm từ sữa, thịt, gỗ và sản phẩm gỗ, cá, máy móc
Đối tác xuất khẩu Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh
Nhập khẩu (triệu USD) 35650
Mặt hàng nhập khẩu Máy móc và thiết bị, vận tải và máy bay, dầu khí, điện tử, dệt may, chất dẻo
Đối tác nhập khẩu Australia, Trung Quốc, Anh, Nhật Bản, Đức, Singapore

Nguồn: CIA 2013

 
Thể chế chính trị: Theo thể chế Quân chủ nghị viện, chế độ một viện từ năm 1907

Chưa có hiến pháp thành văn, có các bộ hình của Quốc hội

Có 93 hạt, 99 quận và 3 thành phố cấp quận. Lãnh thổ phụ thuộc và liên kết: Niu-ơ, Cúc, Tô-kê-lan

Viện đại biểu gồm 120 thành viên được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 3 năm, đại diện cho 97 khu vực bầu cử. Trong số các khu vực bầu cử có 4 khu vực có các cử tri người Mao-ri. Toàn quyền của Niu-di-lân là đại diện của Nữ Hoàng Anh. Toàn quyền  chỉ định Thủ tướng. Thủ tướng chỉ định các thành viên của Nội các. Nội các chịu trách  nhiệm  trước Viện đại biểu

Địa lý:  Thuộc châu Đại Dương (Nam Thái Bình Dương). Đảo Nam (rộng 151.215 km2) có các dãy núi  cao chạy từ Bắc xuống Nam đỉnh Cúc, cao 3764m. Ở phía tây-nam của đảo này, núi gặp biển ở dải bở biển lồi lõm. Giooc-lân. Đồng bằng Can-tơ-bu-ry nằm ở phía đông các dãy núi, trong đó có các núi lửa. Hai núi lửa vẫn còn hoạt động. Các miền đất thấp ở đảo Bắc vẫn chủ yếu nẳm ở ven biển trong thung lũng Oai-ka-tô

Các sông chính: Sông Oai-ka-tô, 435 km, sông Clu-tha, 338 km

Khí hậu: Ôn hòa, miền bắc ấm hơn, lượng mưa lớn nhưng thay đổi theo nhiều độ cao và địa hình. Tại vùng bờ tây của đảo Nam lượng mưa lên đến trên 6.350mm

Kinh tế: Công nghiệp chiếm 25%, nông nghiệp chiếm 9% và dịch vụ: 66% GDP

Niu Di-lân là nước có nền kinh tế công nông nghiệp đều phát triển, chăn nuôi giữ vai trò quan trọng

Các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là thịt, len và các sản phẩm sữa, chiếm phần lớn trong tổng sản phẩm xuất khẩu của Niu Di-lân. Ngành lâm nghiệp đang được mở rộng, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp bột giấy và giấy. Niu Di – lân nghèo tài nguyên, chỉ có quặng sắt, than đá, than nâu, khí đốt và vàng. Tuy nhiên, Niu – DI lân có tiềm năng thuỷ điện dồi dào (ản xuất điện năng đạt 35,534 tỷ kWh, thuỷ điện chiếm 75,6%, tiêu thụ 35,534 tỷ kWh) làm co sở cho nền công nghiệp. Khí đốt ở đảo Bắc và ngoài khơi Ta – ra – na – ki được hoá lỏng. Niu Di – lân có mức sống cao, mặc dù thị trường nội địa nhỏ và nằm cách xa các cuồgn quốc công nghiệp của thế giới. Xuất khẩu đạt 12,9 tỷ USD, nhập khẩu: 13 tỷ USD; nợ nước ngoài: 53,2 tỷ USD.

Văn hoá - xã hội -  số người biết đọc, biết viết đạt 99%.

Giáo dục bắt buộc và miễn phí trong 11 năm. Bậc trung học bắt đầu từ 13 tuổi. Có một nửa số học sinh sau 11 năm sẽ học tiếp 2 năm để tốt nghiệp trung học. Các kỳ thi quốc gia được bắt đầu vào năm thứ ba và năm thứ năm ở bậc trung học. Có 7 trường đại học, sinh viên phải trả học phí. Bên cạnh đó có 25 trường kỹ thuật đào tạo nghề.

Cơ sở chữa bệnh rất tốt, có cả công và tư, cả những người tình nguyện. Miễn phí cho các bệnh phổ biến, thai sản, trẻ sơ sinh và cho trẻ em dưới 18 tuổi.

Tuổi thọ trung bình đạt 77,82 tuổi, nam: 74,55 tuổi, nữ: 81,27 tuổi.

Những danh thắng dành cho du lịch, nghỉ ngơi và giải trí; thành phố Au – xcơ - lan - đơ, Rô- tô - ma, công viên quốc gia, núi Lúc, Quy – en – xtau – nơ, Pê – tôn – nơ…

Lịch sử – Người Mao – ri từ khu vực Pô - ly – nê – si – a di cư đến Niu Di – lân vào thế kỷ VIII. Mặc dù nhà thám hiểm Hà Lan A – ben Ta – xman (1603 – 1659) khám phá ra vùng Oðt – xơ - lân từ năm 1642, nhưng do sự thù địch của người Mao – ri đối với những người mới nhập cư, nên mãi đến cuối thế kỷ XVIII, người châu Âu mới đến Niu DI – lân định cư. Vào năm 1770, Giêm Cúc (1728 – 1779) đi vòng quanh hai hòn đảo chính và các mô tả của ông về xứ sở này đã kích thích quá trình thuộc địa hoá. Khoảng đầu thế kỷ XIX, người Ô - trây – lia lập một số trạm đánh cá voi ở Niu Di – lân. Đẳo Bắc được các tù trưởng Mao – Di nhượng cho Hoàng gia Anh theo hiệp ước  Oai – tan – gi, năm 1840. Niu Di – lân được cai trị với tư cách là một bộ phận của Niu Xao Uên (bây giờ là một bang của úc) cho đến khi một chính phủ thuộc địa riêng được thành lập năm 1841.

Những năm 40 của thế kỷ XIX đượcđánh dấu bằng cuộc kháng chiến vũ trang của người Mao – ri, mà đa số sống ở đảo Bắc, chống lại việc định cư của người Anh. Trong những năm 50 tiếp theo, quan hệ giữa các tù trưởng Mao – ri và những người định cư da trắng càng xấu hơn do tranh chấp đất đai. Năm 1860, chiến tranh nổ ra khi quân đội được huy động để đẩy người Mao –r i ra khỏi các vùng đất tranh chấp. Đánh nhau kéo dài gần một thập kỷ ở đảo Bắc và hoạt động du kích ở vùng đất của nhà vua (miền trung của đảo Bắc) cho đến năm 1870 vẫn không bị dập tắt. Các cuộc chiến tranh với người Mao – ri đã làm chậm quá trình định cư của người ÂU ở đảo Bắc. Trong 25 năm cuối của thế kỷ XIX, việc phát hiện ra vàng và việc sử dụng các tàu với thiết bị đông lạnh để xuất khẩu thịt và các sản phẩm sữa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thuộc địa hoá và sự phát triển kinh tế của đảo Nam. Vào đầu htế kỷ XX, dòng người di cư từ Anh đến đã đẩy số dân ở Niu Di – lân lên đến 1 triệu người. Tuyệt đại bộ phận số người nhập cư sau đó vẫn là nười Anh, tuy có các cộng đồng đông đảo người Sa – moa, người đảo Cúc và người Nam Tư. Từ năm 1891 đến 1912, các chính phủ tự do đi đầu trong các cuộc cải cách và trong việc thực hiện các biện pháp xã hội, trong đó có việc trao quyền bỏ phiếu cho phụ nữ vào năm 1893. Quy chế tự trị được công bố năm 1907. Niu Di – lân tham gia vào đại chiến thế giới lần thứ I với tư cách là đồng minh của Anh ở Châu Âu, có thành tích xuất sắc trong cuộc đổ bộ của quân đồng Minh vào bán đảo Ga – li – pô - li trong chiến dịch chống Thổ Nhĩ Kỳ. Khi Nhật tham gia vào Đại chiến thế giới lần thứ II (năm 1941), nền an ninh của Niu Di – lân hoàn toàn độc lập (1947) và liên minh với Ô- xtrây – li – a và Hoa kỳ theo hiệp ước Liên minh Ô- xtrây – li – a – Niu – Di – lân – Mỹ (ANZUS) năm 1951. Niu Di – lân đã gửi quân đến Việt nam giúp Hoa kỳ tham chiến. Việc Anh gia nhập cộng đồng các nước châu Âu, năm 1973, đã ảnh hưởng đến thương mại của Niu Di – lân. Niu Di – lân buộc phải tìm các thị trường mới, đặc biệt là ở vùng Viễn đông và Trung đông. Dưới thời các chính phủ công đảng )1972 – 1975 và 1984 0 1990), Niu Di – lân thực hiện chính sách ngoại giao và phòng thủ độc lập. Việc cấm các tàu thuỷ chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc mang vũ khí hạt nhân trong lãnh hải của Niu Di – lân đã đặt một câu hỏi về vai trò của Niu Di lân với tư cách là một thành viên đầy đủ của khối ANZUS.