(22/04/2009)

Định hướng phát triển quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Châu Phi

Xác định Châu Phi là thị trường tiềm năng và là nơi vươn tới của doanh nghiệp Việt Nam, ngày 5 tháng 3 năm 2009, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1133/QĐ-BCT về Chương trình hành động của Bộ nhằm đẩy mạnh quan hệ kinh tế, thương mại với các nước châu Phi giai đoạn 2008 – 2010. Chương trình hành động này đã đề ra 6 mục tiêu và đây chính là định hướng cho hoạt động của các doanh nghiệp nước ta với thị trường này.

Thứ nhất, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại với thị trường Châu Phi, đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh vào các nước trong khu vực có nhu cầu cao như hàng nông sản, gạo, thực phẩm, hàng dân dụng… Tăng cường các biện pháp trao đổi thương mại hai chiều để giảm chi phí vận tải, nâng cao năng lực cạnh tranh. Đa dạng hoá ngành hàng xuất khẩu và nhập khẩu, chú trọng việc nhập khẩu nguyên liệu từ châu Phi nhất là dầu khí và gỗ.

Theo thống kê của WTO, hiện nay nhóm hàng châu Phi nhập khẩu nhiều nhất là các sản phẩm chế tạo (máy móc, thiết bị, dụng cụ…) với kim ngạch nhập khẩu năm 2007 đạt 241,5 tỷ USD. Tiếp đó là nhóm nhiên liệu khoáng sản (54,7 tỷ USD) và nhóm hàng nông sản (49,6 tỷ USD). Đáng chú ý là trong 49,6 tỷ USD các mặt hàng nông sản này, thực phẩm đã chiếm 40,3 tỷ USD.

Về phía Việt Nam, theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang châu Phi năm 2008 gồm: gạo (587 triệu USD), sản phẩm dệt may (99 triệu USD), cà phê (98 triệu USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (41 triệu USD), giày dép (37,7 triệu USD), hàng hải sản (85 triệu USD), hạt tiêu (32 triệu USD), săm lốp các loại (22,4 triệu USD)…. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đã có sự gia tăng đáng kể (95% so với năm 2007) nhưng về cơ cấu mặt hàng chưa có nhiều thay đổi, do đó nhu cầu đặt ra là phải đa dạng hóa các sản phẩm xuất khẩu để tiếp tục duy trì tốc độ xuất khẩu sang khu vực châu Phi mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh.

Xuất khẩu sang châu Phi cần được gắn với nhập khẩu, đặc biệt là những sản phẩm châu Phi có khả năng cung cấp với số lượng lớn như nguyên nhiên liệu và khoáng sản phục vụ sản xuất. Theo WTO, nhóm hàng khoáng sản và nguyên nhiên liệu luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng xuất khẩu của châu lục với trị giá là 249 tỷ USD trong năm 2006 và 296 tỷ USD năm 2007. Phương thức giao dịch hàng đổi hàng cần được các doanh nghiệp Việt Nam xem xét để sử dụng hiệu quả trong giao dịch với các nước châu Phi. Đây là một biện pháp vừa có thể giải quyết nhu cầu nhập khẩu trong nước vừa có thể giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam bù trừ phần tiền hàng do khả năng thanh toán còn hạn chế của những nhà nhập khẩu châu Phi, ví dụ như doanh nghiệp của ta xuất gạo đổi hạt điều thô mà hàng năm Việt Nam đang nhập về để chế biến, phục vụ các đơn hàng xuất khẩu sang khu vực thị trường khác...

Thứ hai, tận dụng những ưu đãi mà nhiều quốc gia ở Châu Phi được hưởng từ Mỹ, EU… hoặc các nước trong khu vực dành cho nhau để tạo cầu nối mở rộng trao đổi thương mại với các quốc gia khác. Phấn đấu nâng tổng giá trị trao đổi thương mại với Châu Phi đạt 2,5 tỷ đô la Mỹ (USD) vào năm 2009, trong đó xuất khẩu đạt 1,6 tỷ đô la Mỹ (USD), và đạt 3 tỷ đô la Mỹ vào năm 2010, trong đó xuất khẩu đạt 1,8 tỷ USD, mức tăng trưởng xuất khẩu đạt 20% mỗi năm.

Hiện nay có hơn 30 nước châu Phi được hưởng GSP của EU. Bên cạnh chế độ GSP, EU cũng đưa ra cơ chế “Mọi thứ trừ vũ khí” không hạn ngạch, không thuế quan dành cho những nước chậm phát triển.

Những ưu đãi mà Mỹ dành cho các quốc gia đang phát triển châu Phi không chỉ giới hạn ở chế độ GSP mà còn bao gồm Đạo luật Cơ hội và phát triển châu Phi (AGOA). Trong số 45 nước châu Phi được Mỹ cho hưởng GSP thì 38 nước hưởng lợi từ AGOA.

Ngoài ra, việc tận dụng các ưu đãi về thuế và phi thuế nội khối như SADC, SACU, COMESA... cũng rất quan trọng. Đây là những khối kinh tế của các nước trong từng khu vực địa lý châu Phi, giúp cho hàng hóa của Việt Nam khi vào được một nước trong khối là vào được cả khối mà không có trở ngại về thuế hay thủ tục hải quan.

Thứ ba, thúc đẩy việc triển khai các dự án dầu khí đã ký ở An-giê-ri, Ai Cập, Tuy-ni-di, Ca-mơ-run, CH Công-gô, Ma-da-gas-ca, Ni-giê-ri-a và mở rộng các hoạt động dầu khí tại một số nước châu Phi khác có tiềm năng về dầu khí như Ăng-gô-la, Li-bi… bằng cách tận dụng các cơ hội thuận lợi để ký kết các hợp đồng thăm dò, khai thác dầu khí, đa dạng hoá nguồn nhập khẩu dầu thô, khí LNG nhằm phục vụ chiến lược an ninh năng lượng của Việt Nam.

Đối với nhiều quốc gia, khi hướng tới hợp tác với châu Phi thì không thể không nhắc đến lĩnh vực dầu khí. Bên cạnh những các loại tài nguyên khoáng sản, dầu thô là một trong những tài nguyên quan trọng của khu vực. Châu Phi chiếm khoảng 8% sản lượng về dầu mỏ khí đốt của thế giới. Về mặt kỹ thuật, việc khai thác dầu tại đây dễ dàng hơn các mỏ dầu ở nơi khác nên chi phí khai thác rẻ hơn. Ngành công nghiệp dầu mỏ của châu Phi đang đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, mở ra nhiều tiềm năng cho châu lục này. Trong khi chưa có kỹ thuật và công nghệ khai thác dầu khí, các nước châu Phi nhiều dầu mỏ đang nỗ lực thu hút đầu tư nước ngoài để khai thác nguồn tài nguyên quý giá này. Đây là những yếu tố thuận lợi để Việt Nam tiếp tục vươn ra lục địa đen, mở rộng nguồn cung đảm bảo an ninh năng lượng.

Thứ tư, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại như tham gia hội chợ, triển lãm, nghiên cứu và khảo sát thị trường; tăng cường phổ biến thông tin chính sách thị trường và có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong nước.

Đến nay hoạt động xúc tiến thương mại đã được triển khai liên tục và hiệu quả ở một số nước trong khu vực như Nam Phi, Ai Cập. Tuy nhiên các chương trình xúc tiến thương mại không nên chỉ tập trung vào những thị trường lớn và cần phải mở rộng sang các thị trường “ngách”, tránh tình trạng tập trung nhiều vào một thị trường và bỏ ngỏ những thị trường tiềm năng khác.

Để hoạt động xúc tiến thương mại có hiệu quả, song song với những biện pháp, kế hoạch của các cơ quan thì sự tham gia năng động và chuyên nghiệp của bản thân mỗi doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nhất. Việc này đòi hỏi sự chuẩn bị và phối hợp tốt giữa các cơ quan đơn vị với các doanh nghiệp tham gia.

Bên cạnh đó, công tác thông tin cần được đẩy mạnh. Việc thông tin chính sách thị trường là việc làm cần thiết và thường xuyên của các cơ quan quản lý nhà nước, các Thương vụ. Về phía doanh nghiệp, khi tham gia vào thị trường này thì cần có những nghiên cứu, nắm vững thông tin về thị trường ở cả về góc độ luật pháp, tập quán kinh doanh, yếu tố văn hóa…. doanh nghiệp phải có chiến lược quảng bá về những ngành hàng, lĩnh vực mà mình sản xuất kinh doanh, mạnh dạn quảng bá sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng ở thị trường nước sở tại và thường xuyên cập nhật thông tin về từng thị trường, từng ngành hàng kinh doanh.

Thứ năm, nghiên cứu lập các trung tâm thương mại tại một số nước, lập kho ngoại quan tại các khu vực Bắc Phi, Tây Phi, Đông Nam Phi để tạo thuận lợi cho việc quảng bá thương hiệu và trao đổi thương mại.

Với ý nghĩa là một cơ cấu thương mại hiện đại, các Trung tâm thương mại Việt Nam ở nước ngoài sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước ta, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nâng cao khả năng thâm nhập trực tiếp vào thị trường. Nhà nước cần xem xét thành lập một Trung tâm như vậy ở châu Phi, trước hết ưu tiên lựa chọn địa bàn có Đại sứ quán và Thương vụ (ví dụ Nam Phi, Ai Cập). Trong khi Nhà nước chưa mở Trung tâm thương mại ở các nước châu Phi, các doanh nghiệp nước ta cũng có thể tự mình mở các trung tâm thương mại, hoặc các showroom với quy mô nhỏ hơn, để giới thiệu sản phẩm và làm địa điểm giao dịch.

Bộ Công Thương đã yêu cầu các Thương vụ tìm hiểu thông tin về cách thức hoạt động, chi phí để thuê/lập kho ngoại quan tại nước sở tại để đề xuất những phương án hỗ trợ của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh với các nước này. Đây là việc làm cần thiết khi việc kinh doanh với châu Phi thường mắc ở khâu thanh toán do khó khăn tài chính hoặc quan hệ đại lý ngân hàng chưa được xác lập với những bạn hàng, ngân hàng ở các nước châu Phi.

Thứ sáu, đa dạng hoá và mở rộng hợp tác với châu Phi trên các lĩnh vực như đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu và hợp tác kinh doanh cho các doanh nghiệp tại thị trường châu Phi.

Hiện nay hợp tác trên các lĩnh vực dịch vụ giữa nước ta và các nước châu Phi còn ở mức độ rất thấp. Trong khi đó, hợp tác trên các lĩnh vực này lại có tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các nước Châu Phi.

Hiện nay mức độ hợp tác về tài chính, bao gồm cả bảo hiểm giữa Việt Nam và các nước châu Phi còn rất hạn chế. Vì vậy trong thời gian tới, nước ta cần thúc đẩy hợp tác với các nước châu Phi trên lĩnh vực này, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực ngân hàng, quan hệ giữa các ngân hàng thương mại nước ta và các nước châu Phi cũng chưa phát triển. Phần lớn các ngân hàng chưa mở quan hệ đại lý với nhau nên mọi khoản thanh toán đều phải thông qua một ngân hàng thứ ba gây mất thời gian và phí tổn. Vì vậy, việc nghiên cứu khảo sát hệ thống ngân hàng, hệ thống thanh toán của các nước châu Phi tiến tới ký các thỏa thuận hợp tác về ngân hàng, thiết lập quan hệ đại lý là rất cần thiết.

Về đầu tư, thực tế cho thấy hoạt động đầu tư giữa Việt Nam và các nước châu Phi còn yếu. Nước ta chưa thu hút được đầu tư từ một số nước có tiềm lực kinh tế tương đối mạnh của châu lục này như Nam Phi, Ai Cập, Maroc. Vì vậy công tác thu hút đầu tư vào Việt Nam từ một số nước châu Phi cần phải được đẩy mạnh. Ngược lại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần nghiên cứu đầu tư vào thị trường châu Phi để tận dụng được những điều kiện tốt nhất của thị trường nước sở tại. Các lĩnh vực ta có thể đầu tư vào châu Phi gồm dệt may, thuỷ sản, chế biến nông sản, chế biến gỗ, công nghiệp nhựa, dược phẩm, lắp ráp chế tạo xe máy, đồ điện tử, nhà thép tiền chế.

Du lịch là thế mạnh trong hoạt động dịch vụ của nhiều nước châu Phi như Ai Cập, Nam Phi, Maroc, Tanzania. Tuy nhiên hợp tác về du lịch giữa nước ta và các nước châu Phi còn rất hạn chế. Chúng ta cần đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch để quảng bá về tiềm năng du lịch của Việt Nam và phối hợp trao đổi các tour du lịch.

Trên đây là sáu định hướng tổng quan mà Bộ Công Thương đề ra với thị trường Châu Phi. Với mong muốn và quyết tâm của cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, hy vọng rằng mục tiêu 2,5 tỷ USD năm 2009 và 3 tỷ USD năm 2010 cho kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Châu Phi sẽ trở thành hiện thực./.


Vụ Châu Phi - Tây Nam Á