(31/05/2017)

Điểm tình hình kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016

Năm 2016, mức tăng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đạt 2,9%, thấp hơn nhiều so với mức 6,1% của năm 2015 theo số liệu công bố của Viện Thống kê Thổ Nhỉ Kỳ (TUIK). Trong đó, ngành nông nghiệp giảm 4,1%, công nghiệp tăng 4,5% và ngành dịch vụ chỉ tăng có 0,8%. Mức GDP bình quân đầu người là 32.676 lira và 10.807 đô la Mỹ. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), GPD của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016 là 856 tỷ USD.

Theo số liệu GDP năm 2015 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), Thổ Nhĩ Kỳ hiện là nền kinh tế lớn thứ 8 tại châu Âu và lớn thứ 18 thế giới, là thành viên Nhóm 20 quốc gia có nền kinh tế mới nổi (G20). Hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập nước cộng hòa vào năm 2023 (1923 – 2023), Thổ Nhĩ Kỳ xác định mục tiêu trở thành 1 trong 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Sau thời gian kinh tế phát triển nhanh, từ năm 2012 tăng trưởng đã chậm lại, thu nhập bình quân đầu người đã giữ ở khoảng 9.000 USD mỗi năm, thất nghiệp đang tăng lên, và động lực cải cách đã không đồng đều.  Tăng trưởng chậm ở châu Âu và môi trường địa chính trị suy giảm trong khu vực lân cận đã tác động tiêu cực đến xuất khẩu, đầu tư và tăng trưởng. Dòng người tị nạn Sy-ri lên đến 3 triệu vào năm 2015- 2016 đã tạo ra những nhu cầu xã hội, kinh tế và diễn biến chính trị mới. Những diến biến chính trị vào năm 2015 và năm 2016 đã tạo nên những thách thức khác đối với phát triển kinh tế. Các cuộc bầu cử vào tháng 6 và tháng 11 năm 2015, cuộc cải tổ nội các vào tháng 5 năm 2016, một cuộc đảo chính bất thành vào tháng 7 và việc sa thải nhiều quan chức chính phủ đã ảnh hưởng đến đà cải cách của Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ. Đồng thời, một loạt các cuộc tấn công khủng bố đã làm suy yếu du lịch và đầu tư nước ngoài, đầu tư tư nhân cũng đã bị giảm sút.

 

1. Mức tăng GDP

 

GDP của Thổ Nhĩ Kỳ tăng 4,5% trong Quý 1 và 5,3% trong Quý 2, nhưng giảm tới 1,3% trong Quý 3 do tác động của cuộc đảo chính bất thành và những biến động chính trị sau đó. Đây là Quý đầu tiên GPD của Thổ Nhĩ Kỳ tăng trưởng âm lớn nhất kể từ kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009. GPD chỉ quay trở lại tăng trưởng trong Quý 4 với mức tăng 3,5% do sự hồi phục của tiêu dùng cá nhân và xuất khẩu ròng.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng của Thổ Nhĩ Kỳ đã giảm từ 6,1% năm 2015 xuống còn 2,9% vào năm 2016. Trong nửa sau của năm 2016, thâm hụt tài khoản vãng lai đã tăng 3,3 tỷ đô la Mỹ lên 32,6 tỷ đô la Mỹ, chủ yếu là do sự sụt giảm của lượng khách du lịch, trong khi dòng tiền vào tài chính suy yếu do sự tăng lên của sự không chắc chắn trong nước, sự suy giảm cân bằng kinh tế vĩ mô và bất lợi môi trường toàn cầu.

Về triển vọng năm 2017, Ngân hàng Thế giới đánh giá mức tăng trưởng dự kiến ​​sẽ tăng dần trong năm 2017 và sẽ đạt bằng 3,5%. Sau sự suy giảm trong năm 2016, xuất khẩu có thể sẽ tăng trưởng vào năm 2017 nhờ tăng trưởng mạnh mẽ hơn ở EU (đối tác thương mại chính của Thổ Nhĩ Kỳ), trong khi nhập khẩu dự kiến ​​sẽ tăng với tốc độ vừa phải khi nhu cầu trong nước phục hồi. Mối quan ngại về an ninh có thể sẽ hạn chế sự phục hồi của khách du lịch đến từ cả châu Âu và Nga.

Việc đồng lira mất giá có thể tiếp tục gia tăng giá tiêu dùng, làm giảm sức mua của hộ gia đình. Hơn nữa, bảng cân đối tài chính của các doanh nghiệp có thể xấu đi do vị thế ngoại hối mở rộng, do đó làm giảm triển vọng đầu tư tư nhân. Việc thắt chặt chính sách tiền tệ gần đây có thể sẽ hạn chế sự phục hồi của nhu cầu trong nước trong thời gian tới, trong khi tỷ lệ tái đầu tư của khu vực ngân hàng có thể sẽ hạn chế tăng trưởng tín dụng. Vào năm 2017, với giá năng lượng tăng do sự phục hồi của giá dầu thế giới, thâm hụt tài khoản vãng lai dự kiến ​​sẽ tăng lên 5% GDP, trong khi lạm phát có thể vẫn cao hơn kế hoạch.

 

2. Một số chỉ số kinh tế vĩ mô khác

Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ liên tục cắt giảm lãi suất cơ bản để thúc đẩy phát triển kinh tế, gần đây nhất đã đưa lãi suất cơ bản về 8,25%/năm, tuy nhiên việc cắt giảm lãi suất này cũng dự báo sẽ gây nên rủi do tỷ giá do các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục rút vốn tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ.

          Tỷ giá giữa đồng Lira và USD đã tăng lên mức 2,9 TL = 1 USD sau quyết định hạ lãi suất sau khi đã tăng giá về mức trước khi cuộc đảo chính xẩy ra và sau đó đã leo lên mức 3,15 TL= 1 USD sau khi Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FEB) giữ nguyên lãi suất và những vụ bắt bớ các nhà báo đối lập và các nghị sĩ thuộc đảng HDP trong những tháng cuối năm 2016. Đến cuối tháng 12 năm 2016, tỷ giá đã lên tới 3,52 TL= 1 USD.

          Mức lạm phát trong năm 2016 là 8.5% (CPI-2016).

          Tỷ lệ thất nghiệp năm 2016 là 10,9%, theo số liệu của Viện thống kê Thổ Nhĩ Kỳ (TurkStat). Lượng lao động Thổ Nhĩ Kỳ đạt 30,53 triệu vào năm 2016, tăng 857 nghìn người so với năm 2015.

 

3. Du lịch

Thổ Nhĩ Kỳ đón 25,27 triệu lượt khách du lịch trong năm 2016, giảm tới 29,01% so với mức 35,59 triệu năm 2015. Mức giảm sút trong năm 2016 là do những biến động chính trị và do các vụ tấn công khủng bố xẩy ra liên tục từ cuối năm 2015, nhất là ảnh hưởng của sự cấm vận của Nga sau vụ Thổ Nhĩ Kỳ bắn rơi máy bay của Nga. Tuy nhiên, lượng khách du lịch quốc tế vẫn lên tới hơn 25 triệu người tương đương với 1/3 dân số của Thổ Nhĩ Kỳ. Thu nhập từ du lịch năm 2016 đạt 22,1 tỷ USD, mức chi tiêu bình quân năm 2016 là 875,2 USD/khách.

          Thổ Nhĩ Kỳ có vị trí địa lý thuận lợi là giao điểm các châu lục Âu – Á – Phi và Trung Đông. Nước này có nhiểu điểm thu hút khách du lịch nước ngoài: các công trình kiến trúc văn hóa, tôn giáo đa dạng như Thiên chúa giáo, Giáo hội chính thống, Hồi giáo từ các giai đoạn trước công nguyên, đế chế La Mã, Byzantine, Ottoman, các bãi biển, các khu du lịch sinh thái, sân golf, du lịch chữa bệnh, du lịch khám phá, cơ sở hạ tầng du lịch và chất lượng phục vụ tốt…

          Lượng khách du lịch chủ yếu đến Thổ Nhĩ Kỳ là từ các nước châu Âu, lên tới 12,3 triệu người trong năm 2016, chiếm tới 52,4% tổng lượng khách nhưng cũng đã suy giảm tới 30,8% so với năm trước. Các nước chủ yếu là các nước thuộc CIS (không bao gồm Nga) với 4,7 triệu khách, chiếm tới 18,7% và tăng 6,4% so với năm trước, tiếp đến là Đức với 3,9 triệu lượt người chiếm 15,5%, giảm 29,7%; Anh với 1,7 triệu người, chiếm tỷ trọng 6,8%, giảm 31,7%; Bun-ga-ri với 1,69 triệu, chiếm 6,7%, giảm 7,09%; Iran với 1,6 triệu chiếm 6,5%, giảm 0,33%; Hà Lan với 915 nghìn người, chiếm tỷ trọng 3,6%, giảm tới 26,07%. Đặc biệt, lượng khách từ Nga giảm mạnh chỉ còn 855 nghìn người, giảm tới 76,57%, chỉ còn chiếm 3,3%

 

          4. Đầu tư

          Đầu tư nước ngoài (FDI) vào Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016 với tổng nguồn vốn ròng là 12,3 tỷ USD, giảm 30,1% so với mức 17,6 tỷ USD. Trong nguồn vốn này, có tới 3,89 tỷ USD là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản và 2,1 tỷ USD là nguồn vốn vay giữa các công ty (công ty có vốn FDI vay vốn nước ngoài từ các đối tác nước ngoài). Nguồn vốn FDI thực đầu tư vào nước này là 6,886 tỷ USD, trong đó chỉ có 2,669 tỷ USD đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, giảm tới 53,75% so với năm trước đó. Lượng vốn FDI vào lĩnh vực dịch vụ lên tới 4,191 tỷ USD, cũng giảm tới 33,17% so với cùng kỳ.

          Các nhà đầu từ từ châu Âu đã chiếm tới 63,7% tổng nguồn vốn FDI vào nước này, tương đương với 4,391 tỷ USD, các nhà đầu tư từ châu Á chiếm 29,1%, tương đương với 2,008 tỷ USD. Trong số các nhà đầu từ châu Á, chủ yếu là các nước trong khu vực Trung Đông và vùng Vịnh.

          Đến tháng 12 năm 2016, có đến 53,200 công ty có vốn FDI đang hoạt động tại Thổ Nhĩ Kỳ, trong đó có 2 công ty đăng ký vốn đầu tư từ Việt Nam.

          Mức lương cơ bản của Thổ Nhĩ Kỳ quy định là 398,88 USD/tháng (tương đương với khoảng 1,400TL), tuy nhiên khi tính đủ các chi phí khác như bảo hiểm xã hội (14%), quỹ bảo hiểm thất nghiệp (1%), thuế thu nhập cá nhân (15%), trợ cấp mức sống tối thiểu … thì chi phí người chủ lao động phải trả lên tới 593,34 USD/tháng.

 

 

          5. Xuất khẩu và nhập khẩu

Theo số liệu của Viện Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ, trong năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ đạt 142,5 tỷ USD giảm 0,9% so với năm 2015, trong khi nhập khẩu cũng giảm 4,2% xuống còn 198,6 tỷ USD. Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục là nước nhập siêu, thâm hụt thương mại của nước này trong năm 2016 là 56 tỷ USD , giảm 11,6% so với cùng kỳ, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ tới 39,3% so với xuất khẩu.

Các thị trường xuất khẩu chính của Thổ Nhĩ Kỳ là Đức (9.8%); Anh (8.2%); I-rắc (5.4%); Ý (5.3%); Hoa Kỳ (4.6%); Pháp (4.2%); UAE (3.8%); Tây Ba Nha (3.5%); I-ran (3.5%); Hà Lan (2.5%). Các thị trường nhập khẩu chính của nước này là Trung Quốc (12.8%); Đức (10.8%); Nga (7.6%); Hoa Kỳ (5.5%); Ý (5.1%); Pháp (3.7%); Hàn Quốc (3.2%); Ấn Độ (2.9%); Tây Ba Nha (2.9%); Anh (2.7%).

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Thổ Nhĩ Kỳ là Phương tiện vận tải (HS 87) chiếm tới 13,9% về tỷ trọng và tăng trưởng 13,4% trong năm 2016. Tiếp theo là các mặt hàng máy móc thiết bị và phụ tùng (HS 84), chiếm 8,7%, tăng 0,1%; đá quý và kim loại quý (HS 71) chiếm 8,5%, tăng 8,1%; Hàng dệt kim (HS 61) chiếm 6,2% và giảm 0,9%; thiết bị điện và phụ tùng (HS 85) chiếm 5,5% và giảm 5,4%; sắt thép (HS 72) chiếm 4,3% giảm 5,7%.

Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Thổ Nhĩ Kỳ là máy móc thiết bị (HS 84) chiếm tỷ trọng 13,7% và tăng 6,7% so với năm 2015. Tiếp theo là nhiên liệu hóa thạch và các chế phẩm (HS 27) chiếm tới 13,7% giảm tới 28,2%; thiết bị điện và phụ tùng (HS 85) chiếm 10,1% tăng 14,2%; phương tiện vận tải (HS 87) chiếm 9% và tăng 1,7%; sắt thép chiếm 6,3% và giảm 14,9%; nhựa và các sản phẩm nhựa (HS 39) chiếm 5,9% và giảm 5,2%; đá quý và kim loại quý (HS 71) chiếm 3,6% tăng 72,2%; các sản phẩm quang học (HS 90) chiếm 2,3% và tăng 0,2%; hóa chất hữu cơ (HS 29) chiếm 2,2% giảm 7,5%; máy bay và phụ tùng (HS 88) chiếm 2,2% và tăng 12,5%

Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ