(09/07/2018)

6 tháng năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 113,93 tỷ USD

Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 6/2018 ước tính đạt 19,60 tỷ USD, giảm 1,8% so với tháng trước

(Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa)

Nhiều mặt hàng xuất khẩu trong tháng Sáu có kim ngạch giảm so với tháng trước: Than đá giảm 40,5%; dầu thô giảm 18%; sắt thép giảm 14%; gạo giảm 13,1%; xơ sợi dệt giảm 11,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 10,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 8,5%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng: Chè tăng 30,7%; xăng dầu tăng 23,5%; hóa chất tăng 11,6%; dệt may tăng 6,2%.

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Sáu tăng 9,9%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 25,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 19,1%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 17,8%; giày dép tăng 11,6%; hàng dệt may tăng 5,8%.

Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 113,93 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 33,07 tỷ USD, tăng 19,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 80,86 tỷ USD (chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 14,5%. Loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 6 tháng đầu năm nay có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 85,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 22,5 tỷ USD, tăng 15,4%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 13,5 tỷ USD, tăng 15,7%; hàng dệt may đạt 13,4 tỷ USD, tăng 13,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt hơn 7,8 tỷ USD, tăng 30,6%; giày dép đạt 7,8 tỷ USD, tăng 10,6%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,1 tỷ USD, tăng 20,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4,1 tỷ USD, tăng 12,4%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực chủ yếu vẫn thuộc về khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện 95,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,7%; hàng dệt may 60,6%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản trong 6 tháng đầu năm cũng tăng khá: Thủy sản đạt hơn 3,9 tỷ USD, tăng 11%; rau quả đạt 2 tỷ USD, tăng 20,9%; gạo đạt 1,8 tỷ USD, tăng 44,3% (lượng tăng 26,2%); hạt điều đạt 1,7 tỷ USD, tăng 17,6% (lượng tăng 18%). Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Cà phê đạt 2 tỷ USD, giảm 6% (lượng tăng 9,6%); cao su đạt 819 triệu USD, giảm 8,2% (lượng tăng 16,6%); hạt tiêu đạt 457 triệu USD, giảm 35,7% (lượng tăng 5,9%). Riêng dầu thô tính chung 6 tháng tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước mặc dù giá xuất khẩu bình quân tăng 37,3%: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt trên 1 tỷ USD, giảm 32,2% (lượng giảm 50,7%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2018, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 56,5 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước; chiếm 49,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2017), trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 22,5 tỷ USD, tăng 15,4% và chiếm 19,7%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 42,3 tỷ USD, tăng 13,8% và chiếm 37,1% (giảm 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 11,2 tỷ USD, tăng 12% và chiếm 9,8% (giảm 0,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản hơn 3,9 tỷ USD, tăng 11% và chiếm 3,5% (giảm 0,1 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 21,5 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó hàng dệt may tăng 9,9%; điện thoại và linh kiện tăng 8,6%. Tiếp đến là EU đạt 20,5 tỷ USD, tăng 12,3%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 27,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 16,6%; điện thoại và linh kiện tăng 16,5%. Trung Quốc đạt 16,6 tỷ USD, tăng 28%, trong đó điện thoại và linh kiện gấp hơn 3 lần cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 33%; rau quả tăng 20,1%. Thị trường ASEAN đạt 12,2 tỷ USD, tăng 17,4%, trong đó gạo tăng 244,1%; sắt thép tăng 51,2%; điện thoại và linh kiện tăng 9,2%. Nhật Bản đạt 9 tỷ USD, tăng 12,5%, trong đó hàng dệt may tăng 23,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 3,7%. Hàn Quốc đạt 8,6 tỷ USD, tăng 31,8%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 56,8%; điện thoại và linh kiện tăng 31,1%; hàng dệt may tăng 22,7%.

Tổng cục Thống kê