(05/12/2018)

11 tháng đầu năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2017

Tính chung 11 tháng năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 223,63 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2017

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Một ước tính đạt 21,60 tỷ USD, giảm 4,1% so với tháng trước, nhưng tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.  Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Hóa chất tăng 36,4%; hàng dệt may tăng 20,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 20,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng twang 18,9%; điện thoại và linh kiện tăng 2,5%.

Tính chung 11 tháng năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 223,63 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 46,1 tỷ USD, tăng 11,5%; hàng dệt may đạt 27,8 tỷ USD, tăng 17,4%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 27 tỷ USD, tăng 13,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,1 tỷ USD, tăng 28,6%; giày dép đạt 14,5 tỷ USD, tăng 9,9%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản cũng tăng khá: Thủy sản đạt 8 tỷ USD, tăng 6,1%; rau quả đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6%; cà phê đạt 3,3 tỷ USD, tăng 2,9% (lượng tăng 23%); gạo đạt 2,9 tỷ USD, tăng 16,8% (lượng tăng 4,8%). Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Hạt điều đạt 3,1 tỷ USD, giảm 4,2% (lượng tăng 4,5%); cao su đạt 1,9 tỷ USD, giảm 6,1% (lượng tăng 14,8%); hạt tiêu đạt 720 triệu USD, giảm 32,3% (lượng tăng 9,1%). Riêng dầu thô tính chung 11 tháng tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 2,1 tỷ USD, giảm 20,4% (lượng giảm 42,5%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 11 tháng, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 43,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 49,8%; giày dép tăng 14,6%; hàng dệt may tăng 12,4%. Tiếp đến là EU đạt 38,2 tỷ USD, tăng 8,8%, trong đó hàng dệt may tăng 9,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,3%; điện thoại và linh kiện tăng 8%. Trung Quốc đạt 38,1 tỷ USD, tăng 23,2%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 57,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 24,8%; rau quả tăng 8,6%. Thị trường ASEAN đạt 22,7 tỷ USD, tăng 14%, trong đó gạo tăng 107,7%; sắt thép tăng 40,7%; hàng dệt may tăng 35,3%. Nhật Bản đạt 17,1 tỷ USD, tăng 11,5%, trong đó hàng dệt may tăng 23,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 13,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 7,7%. Hàn Quốc đạt 16,9 tỷ USD, tăng 24,7%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 40,4%; hàng dệt may tăng 30,4%; điện thoại và linh kiện tăng 14,9%.

Tổng hợp